1. QUY ĐỊNH BOX EBOOK SƯU TẦM

    Khi các bạn post link eBook sưu tầm nhớ chú ý nguồn edit và Link dẫn về chính chủ

    eBook phải tải File trực tiếp lên forum (có thể thêm file mediafire, dropbox ngay văn án)

    Không được kèm link có tính phí và bài viết, hay quảng cáo phản cảm, nếu có sẽ ban nick

    Cách tải ebook có quảng cáo

Khi Lỗi Thuộc Về Những Vì Sao - John Green

Thảo luận trong 'Truyện Phương Tây'

  • ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :
    1. horcrux

      horcrux New Member

      Bài viết:
      27
      Được thích:
      2
      Chương 10


      Chúng tôi chỉ có thể mang va-li. Tôi thể mang vác gì còn Mẹ khăng khăng bảo bà thể xách hai va-li.Cho nên chúng tôi phải khéo léo sắp đồ vào chiếc va-li màu đen — món quà cưới mà Ba Mẹ tôi nhận được từ triệu năm trước đây, chiếc va-li tưởng được chu du qua những miền đất hứa, nhưng cuối cùng quanh quẩn lại chỉ mỗi Dayton, nơi Công ty Bất động sản Morris có văn phòng vệ tinh mà Ba phải thường xuyên đến công tác.

      Tôi tranh luận với Mẹ rằng nên dành cho tôi hơn nửa va-li, vì nếu có tôi và bệnh ung thư của tôi ngay từ đầu chúng tôi bao giờ được Amsterdam. Mẹ phản đối rằng do bà to gấp đôi tôi nên cần mặc nhiều vải để giữ gìn đoan trang thùy mị của mình, bà xứng đáng có ít nhất hai phần ba chiếc va-li.

      Cuối cùng, cả hai mẹ con đều đuối lý. Nên đành mặc kệ.

      Chuyến bay của chúng tôi khởi hành vào giữa trưa. Vậy mà Mẹ đánh thức tôi dậy lúc năm giờ ba mươi phút, vừa bật đèn phòng vừa réo, “AM-STERDAM!” Bà cứ chạy vòng vòng khắp nhà cả buổi sáng, để đảm bảo rằng chúng tôi quên ổ cắm biến điện, kiểm tra năm lần bảy lượt xem chúng tôi có đủ bình ô-xy và tất cả các bình đều đầy khí chưa, vân vân và vân vân, trong khi tôi chỉ cần nhấc lưng khỏi giường và chui ngày vào Bộ Vía Du Lịch Amsterdam của mình (quần jean, áo hai dây màu hồng và chiếc áo len màu đen trong trường hợp máy bay bật nhiệt độ thấp).

      Đồ đạc được chất lên xe vào lúc sáu giờ mười lăm phút, rồi Mẹ nhất quyết đòi hai mẹ con phải ăn sáng với Ba, mặc dù tôi luôn phản đối chuyện ăn sáng trước khi bình minh ló dạng. Tôi phải là nông dân Nga thế kỷ mười chín cần ních đầy bụng cho ngày lao động cực nhọc ngoài đồng. Nhưng dù sao tôi cũng cố lót dạ vài quả trứng luộc trong khi Ba và Mẹ thưởng thức món bánh burger kẹp trứng tự làm theo kiểu McMuffins khoái khẩu. Tôi tò mò hỏi:

      “Tại sao chúng ta lại ăn thức ăn sáng vào bữa sáng? Giống như, tại sao chúng ra ăn cà-ri vào bữa sáng?”

      “Hazel, lo ăn .”

      “Nhưng tại sao chứ? Con hỏi mà: Sao mà món trứng đánh bị liệt thành món ăn độc quyền cho bữa sáng này? Ta có thể kẹp sandwich với thịt xông khói mà chẳng ai phiền trách. Nhưng chỉ cần kẹp trứng vào sandwich là bum, nó trở thành bánh sandwich điểm tâm.”

      Ba lúng túng trả lời trong khi miệng đầy đồ ăn. “Khi con trở về, chúng ta ăn tối bằng đồ ăn sáng. Chịu chưa con ?”

      “Con muốn ‘ăn tối bằng đồ ăn sáng’,” tôi trả lời, đặt dao và nĩa chiếc đĩa còn ê hề thức ăn của tôi. “Con muốn ăn trứng đánh vào bữa ăn tối mà cần giải thích nhảm nhí là món trứng đánh chỉ dành riêng cho bữa ăn sáng ngay cả khi ta dùng nó vào giờ ăn tối.”

      “Con phải tự chiến đấu trong thế giới này, Hazel,” Mẹ tôi . “Nhưng nếu đây là vấn đề mà con muốn tranh đấu Ba Mẹ đứng sau lưng ủng hộ con.”

      “Hơi lấp ló phía sau thôi,” Ba tôi đế thêm làm Mẹ cười ngặt nghẽo.

      Dù sao tôi cũng biết chuyện mình nêu ra khá ngốc nghếch, nhưng tôi vẫn cảm thấy tội tội cho món trứng đánh.

      Sau khi ăn xong, Ba rửa chén bát rồi đưa chúng tôi ra xe. Tất nhiên là ông lại sụt sùi. Ông hôn lên má tôi với khuôn mặt ướt đẫm nước mắt. râu ria lởm chởm chưa cạo. Ông ép chặt mũi mình vào gò má của tôi và thầm, “Ba con. Ba cũng rất tự hào về con.” (Tự hào về chuyện gì nhỉ, tôi tự hỏi.)

      “Cám ơn Ba.”

      “Vài ngày nữa ba con mình lại gặp nhau, được chưa con ? Ba con rất nhiều.”

      “Con cũng Ba mà,” tôi mỉm cười. “Con và Mẹ chỉ có ba ngày thôi.”

      Khi chúng tôi lái xe ra khỏi nhà, tôi vẫy tay chào Ba. Ông vẫy tay lại và nước mắt ngắn dài, khiến tôi cứ nghĩ chắc ông tưởng bao giờ còn nhìn thấy tôi nữa. Có lẽ ông luôn nghĩ thế vào mỗi buổi sáng trước khi làm trong suốt phần đời còn lại của ông, tội cho Ba tôi.

      Mẹ và tôi lái xe đến nhà của Augustus. Khi đến nơi, bà muốn tôi chờ ở trong xe để đỡ mệt nhưng tôi chịu. Khi chúng tôi đến gần nhà, tôi nghe thấy tiếng ai khóc bên trong. Lúc đầu tôi nghĩ đó là Gus, bởi vì chẳng giống gì với chất giọng trầm trầm của . Nhưng sau đó tôi nghe thấy giọng chắc chắn mang điệu của nhưng bị biến . “VÌ ĐÂY LÀ CUỘC SỐNG CỦA CON, MẸ. CUỘC SỐNG CỦA CON THUỘC VỀ CON.” Và Mẹ tôi nhanh chóng choàng tay quanh vai tôi, buộc tôi quay trở lại xe, dáng vẻ gấp gáp. “Chuyện gì vậy Mẹ?”

      “Chúng ta được nghe trộm chuyện nhà người ta, Hazel.”

      Hai mẹ con tôi trở vào trong xe và tôi nhắn tin cho Augustus báo rằng chúng tôi đến và đợi ở bên ngoài đến khi nào sẵn sàng khởi hành.

      Chúng tôi nhìn chằm chằm vào nhà trong lúc. Điều kỳ lạ về mấy ngôi nhà là chúng luôn giống như có gì xảy ra bên trong mặc dù phần lớn cuộc sống của chúng ta đều diễn ra trong đó. Tôi tự hỏi liệu đó có phải là điểm thú vị trong kiến trúc .

      Sau hồi, Mẹ lên tiếng, “À, chắc chúng ta đến quá sớm.”

      “Mẹ cứ như thể con phải dậy từ lúc năm giờ ba mươi vậy,” tôi .

      Mẹ với tay lấy cốc cà phê bộ điều khiển giữa chúng tôi, nhấp ngụm. Vừa lúc đó điện thoại của tôi rung lên, là tin nhắn của Augustus.


      THỂ quyết định nên mặc đồ gì. Em thích mặc áo polo tròng cổ hay áo cài nút hơn?


      Tôi trả lời:


      Áo cài nút.


      Ba mươi giây sau, cửa trước mở ra, và Augustus tươi cười xuất , tay kéo chiếc túi du lịch phía sau. mặc quần jean, đóng thùng chiếc áo cài nút màu xanh da trời. Điếu Camel Light bặm hờ ở khóe môi. Mẹ tôi bước ra chào . tạm thời rút điếu thuốc ra và bằng giọng tự tin mà tôi quen, “Cháu luôn thấy vui khi gặp bác ạ.”

      Tôi quan sát gương mặt học qua gương chiếu hậu cho đến khi Mẹ mở cốp xe. lúc sau Augustus mở cánh cửa phía sau tôi và loay hoay ngồi vào ghế sau bằng chân.

      có muốn em nhường chỗ này ?” Tôi hỏi.

      “Chẳng cần đâu. Chào em, Hazel Grace.”

      “Chào . Okay chưa?”

      “Okay rồi.”

      “Okay.”

      Mẹ tôi ngồi vào sau tay lái, đóng cửa xe và trịnh trọng thong báo, “Điểm dừng kế tiếp, Amsterdam.”


      hoàn toàn đúng như thế. Điểm dừng chân tiếp theo là bãi đậu xe sân bay, rồi đến chiếc xe buýt đưa chúng tôi đến ga , và sau đó chiếc xe điện mui đưa chúng tôi đến vạch kiểm soát. chàng Quản lý An ninh Vận chuyển đứng bên kia vạch, ở đầu dãy, dõng dạc hô hào nào là các túi hành lý được chứa chất nổ, vũ khí hoặc chất lỏng nặng hơn trăm gram. Tôi rủ rỉ với Augustus, “Quan sát: Đứng ngay hàng thẳng lối là hình thức áp bức,” và đáp, “Nghiêm trọng.”

      Thay vì bị kiểm tra bằng tay, tôi chọn cách bước qua các máy dò tìm kim loại mà đeo bình ô-xy, giá thép hoặc thậm chí đầu phun bằng nhựa ở trong mũi. bộ qua máy X-quang đánh dấu lần đầu tiên trong nhiều tháng liền, tôi cất bước mà cần tiếp ô-xy. Và cảm giác tuyệt vời khi bộ mà vướng víu gì, cứ sải bước tự tin vượt lên chính mình và im lặng của máy thừa nhận rằng tôi, dẫu chỉ trong tích tắc, là sinh vật phi kim loại.

      Tôi cảm thấy rệt chủ quyền của cơ thể mình, điều mà tôi sao mô tả được ràng, chỉ có thể đưa ra ví dụ là khi tôi còn , tôi từng vác chiếc ba lô nặng trịch chứa đầy sách vở khắp nơi. Và khi vác chiếc ba lô to oạch ấy đủ lâu, tôi cảm thấy như thể trôi bồng bềnh khi cởi nó ra.

      Chỉ mười giây sau, tôi có cảm giác như hai lá phổi của mình co lại giống như cánh hoa tàn lúc hoàng hôn. Tôi ngồi xuống băng ghế xám phía sau máy quét và cố gắng bắt nhịp thở. Tôi ho húng hắng, và thấy rất khổ sở cho đến khi đút được đầu phun ô-xy vào mũi trở lại.

      Dù vậy nó vẫn đau. Nỗi đau luôn thường trực, quặn thắt bên trong như thể muốn tôi phải cảm nhận được nó. Lúc nào tôi cũng thấy giống như bị đánh thức bởi nỗi đau khi có đối tượng nào đó ở thế giới bên ngoài bất thình lình cần tôi chú ý hay nhận xét này nọ. Mẹ lo lắng nhìn tôi, bà vừa gì đó. Mẹ vừa chuyện gì nhỉ? Rồi tôi chợt nhớ ra, bà hỏi tôi có chuyện gì ổn sao.

      có gì đâu Mẹ,” tôi đáp.

      “Amsterdam!” Bà hào hứng.

      Tôi mỉm cười hùa theo, “Amsterdam!”

      Bà đưa tay kéo tôi đứng lên khỏi băng ghế.


      Chúng tôi tới của khởi hành tiếng trước giờ lên máy bay. “Bác Lancaster, bác người cực kỳ đúng giờ,” Augustus khi ngồi xuống bên cạnh tôi trong khu vực chờ chỉ lác đác vài hành khách.

      “Ừm như vậy bác dư dả thời gian để sắp xếp này nọ,” Mẹ đáp.

      “Mẹ cũng đầu tắt mặt tối mà!” Tôi với bà, mặc dù tôi hiểu Mẹ ‘đầu tắt mặt tối’ chủ yếu vì phải chăm sóc cho tôi. Dĩ nhiên Mẹ cũng khá ‘đầu tắt mặt tối’ vì làm vợ của Ba — người có mấy khái niệm về chuyện giao dịch ngân hàng, kêu thợ sửa ống nước, nấu ăn hay chuyện khác, ngoài việc làm công ăn lương cho Công ty Bất động sản Morris. Nhưng phần lớn là vì tôi. Mục tiêu sống lớn nhất của Mẹ và của tôi lại đan chéo vào nhau cách phức tạp.

      Khi hành khách lần lượt đến và lấp kín những ghế chờ xung quanh chúng tôi, Augustus chợt , “ mua chiếc burger trước khi lên máy bay. Em có muốn ăn gì ?”

      “Dạ , nhưng em đánh giá rất cao việc chạy theo những quy ước xã hội về món ăn sáng.”

      nghiêng đầu nhìn tôi bối rối. Mẹ tôi chen vào, “Chả là Hazel vừa phát triển đề tài nghiên cứu về ‘thân phận thấp hèn’ của món trứng đánh.”

      đáng xấu hổ khi tất cả chúng ta cứ thờ ơ sống và mù quáng chấp nhận món trứng đánh về cơ bản luôn là ‘món điểm tâm’.”

      muốn thảo luận sâu hơn về đề tài này,” Augustus . “Nhưng giờ sắp chết đói đây, nên ăn trước. quay lại ngay.”


      Hai mươi phút sau chưa thấy Augustus quay về, tôi hỏi Mẹ xem liệu có chuyện gì bất trắc . Và Mẹ chỉ ngẩng nhìn lên trong tích tắc từ quyển tạp chí nhảm nhí đọc, đừa đủ lâu để , “Chắc thằng bé vào phòng vệ sinh hay gì đó thôi.”

      nhân viên kiểm soát cửa khởi hành bước đến và thay bình ô-xy của tôi bằng chiếc do hãng hàng cung cấp. Tôi hơi ngượng khi nhân viên cứ quỳ dưới chân tôi, thu hút ánh mắt hiếu kỳ của các hành khách xung quanh. Nên tôi bấm tin nhắn cho Augustus trong khi nhân viên vẫn lúi húi làm tiếp.

      trả lời. Mẹ dường như quan tâm, nhưng tôi tưởng tượng trong đầu cơ man những bất trắc có thể phá hỏng chuyến Amsterdam (nào là bị bắt giam, bị thương, hay bị suy sụp tinh thần). Và mỗi phút trôi qua, tôi thấy ngực mình đau nhói nhưng phải là căn bệnh ung thư hoành hành.

      Và chỉ khi nữ nhân viên đứng phía sau quầy kiểm soát về thông báo mời những hành khách cần lên máy bay trước chuẩn bị khiến mọi người ngồi trong sảnh chờ đều đổ dồn ánh mắt về phía tôi, tôi mới thấy Augustus khập khiễng bước nhanh về phía chúng tôi. tay cầm chiếc túi McDonald, ba lô treo lủng lẳng vai.

      ở đâu vậy?” tôi hỏi.

      “Mọi người xếp hàng rồng rắn ở đó, xin lỗi,” và chìa tay đỡ tôi đứng dậy. Nắm tay , chúng tôi sóng bước bên nhau đến cổng kiểm soát để ra máy bay.

      Tôi có thể cảm nhận là tất cả mọi người đều nhìn chúng tôi, thắc mắc biết hai đứa tôi bị bệnh gì, có bị đe dọa mạng sống , và Mẹ tôi can đảm, vân vân và vân vân. Đôi khi đây chính là chuyện tồi tệ nhất khi bị ung thư: dấu hiệu bệnh tật thể cơ thể bạn, tách biệt bạn khỏi những người khỏe mạnh khác. Chúng tôi khác biệt lẫn vào đâu được. Và hiển nhiên nhất là khi cả ba chúng tôi qua hai hàng ghế trống máy bay, mấy tiếp viên gật đầu chào ra vẻ thông cảm và chỉ cho chúng tôi tới hàng ghế ở tít phía sau. Tôi ngồi ở ghế giữa, Augustus ở ghế cửa sổ và Mẹ ở cạnh lối ngay phía sau cánh máy bay. Bên phía Mẹ ngồi hơi lấn chút nên tất nhiên tôi hơi xích qua phía Augustus. mở túi McDonald và lấy ra cái hamburger của . Vừa ăn vừa :

      “Tuy nhiên, lý luận về trứng của em, là bữa ăn sáng nâng món trứng đánh lên như món điểm tâm bất khả xâm phạm phải ? Em có thể ăn thịt xông khói, phô mai Cheddar ở bất cứ nơi đâu vào bất cứ lúc nào, từ món bánh mì taco chiên giòn của Mexico đến bánh sandwich điểm tâm hay phô mai nướng, nhưng riêng món trứng đánh quan trọng.”

      “Lố bịch,” tôi thốt lên. Hành khách bắt đầu lên máy bay. Tôi muốn nhìn họ, nên tôi nhìn sang chỗ khác và nhìn sang chỗ khác là nhìn vào Augustus.

      chỉ là: Có lẽ món trứng đánh hơi bị lập, nhưng chúng cũng đặc biệt mà. Chúng có vị trí và thời gian phân bổ riêng, giống như nhà thờ vậy.”

      sai đến mức còn có thể sai hơn được nữa. lâm vào tình cảm ủy mị như mấy cái gối thêu lời động viên ở nhà ba mẹ rồi. lập luận rằng, vật càng mong manh dễ vỡ, càng hiếm thấy càng đẹp, chỉ đơn giản là vì nó mong manh dễ vỡ và hiếm thấy. Nhưng đó là dối trá, và biết thế mà.”

      “Em khó dỗ dành quá!”

      “Dễ dỗ dành còn là dỗ dành rồi. từng là bông hoa hiếm hoi và mong manh dễ vỡ, nhớ chứ?”

      Trong lúc gì. “Em biết cách làm im lặng, Hazel Grace.”

      “Đó là đặc quyền của em và trách nhiệm của em.”

      Trước khi tôi thôi nhìn , khẽ , “Nghe này, xin lỗi. Lúc nãy tránh mặt ở cửa kiểm soát. ra hàng người xếp hàng ở McDonald dài như thế; chỉ... chỉ muốn ngồi đó mà tất cả mọi người đều nhìn chúng ta.”

      “Chủ yếu là nhìn em thôi,” tôi chỉnh lại. Mọi người có thể nhìn lướt qua Gus mà bao giờ biết cũng bị bệnh, trong khi bệnh của tôi thể ra hết bề ngoài, đó là phần lý do tại sao tôi chỉ muốn ru rú ở nhà. “Augustus Waters, thần tượng của bao nàng, lại thấy xấu hổ khi ngồi bên cạnh vác theo bình ô-xy.”

      phải xấu hổ. Họ chỉ đôi khi khiến bực mình thôi. Và muốn mình mang tâm trạng bực bội hôm nay.” Sau đó mò tay vào túi và lật mở gói thuốc lá.

      Khoảng chín giây sau, nữ tiếp viên tóc vàng chạy đến hàng ghế của chúng tôi và lịch : “Thưa , được hút thuốc máy bay này. Hay bất kỳ máy bay nào khác.”

      “Tôi hút thuốc,” giải thích, điếu thuốc là bập bỗng trong miệng khi .

      “Nhưng —”

      “Đó là phép dụ,” tôi giải thích dùm . “ ấy đặt thứ giết người ấy trong miệng mình mà cho nó khả năng giết .”

      Chị tiếp viên thoáng bối rối trong giây lát rồi nhã nhặn . “Vâng, phép dụ đó bị cấm chuyến bay ngày hôm nay ạ.” Gus gật đầu và trả điếu thuốc vào bao.

      Cuối cùng máy bay cũng bắt đầu lăn bánh đường băng và tiếng viên phi công thông báo, Các tiếp viên chú ý, máy bay chuẩn bị cất cánh. Tiếp theo là tiếng hai động cơ phản lực gầm lên và máy bay bắt đầu tăng tốc. “Đây chính là cảm giác khi em ngồi trong xe lái nè,” tôi . hơi mỉm cười, nhưng vẫn cắn chặt quai hàm. Tôi hỏi , “Ổn vậy?”

      Máy bay lướt đường băng với tốc độ mỗi lúc nhanh hơn. Bỗng nhiên Gus nắm lấy tay vịn, mắt mở to. Tôi đặt tay lên tay và hỏi, “ ổn ?” chẳng gì, chỉ mở to mắt nhìn chăm chăm tôi. Tội lại hỏi, “ sợ máy bay hả?”

      “Lát cho em biết,” . Mũi của máy bay nhấc lên và chúng tôi trung. Gus nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, xem mặt đất thu dần ở bên dưới. Sau đó tôi thấy tay thả lỏng ra ở bên dưới tay tôi. liếc qua tôi rồi nhìn ra ngoài cửa sổ. “Chúng ta bay,” tuyên bố.

      “Trước đây chưa bao giờ máy bay à?”

      lắc đầu, “NHÌN KÌA!” reo lên, chỉ tay vào cửa sổ.

      “Ừ, ừ, em thấy rồi. Trông giống như chúng ta máy bay.”

      “CHẲNG CÓ GÌ TRÔNG GIỐNG NHƯ THẾ TRONG LỊCH SỬ NHÂN LOẠI,” . phấn khích của đáng , và tôi thể cưỡng mình nghiêng qua hôn lên má .

      “Này, báo cho biết là tôi ở đây đấy nhé,” Mẹ nhắc nhở. “Ngồi ngay bên cạnh , Mẹ của đấy. Là người nắm tay dìu khi chập chững những bước đầu đời đấy.”

      “Chỉ là tình thương mến thương thôi mà!” Tôi nhắc lại lời Gus hôm trước, rồi quay sang hôn chụt lên má Mẹ.

      thấy tình thương mến thương xíu nào,” Gus thầm chỉ đủ cho tôi nghe. Khi chàng Gus ngạc nhiên, phấn khích cách ngây thơ, chuyển sang Augustus hay có những Nghĩa Cử Cao Quý Mang Tính Dụ đơn giản là tôi thể cưỡng lại quyến rũ đó.


      Đó là chuyến bay ngắn quá cảnh tới Detroit. Đến nơi chúng tôi xe điện mini sang cửa khởi hành Amsterdam. Chiếc máy bay này có màn hình ti-vi ở mặt sau mỗi ghế. Nên khi chúng tôi bay những đám mây, Augustus và tôi cùng canh giờ bật xem bộ phim hài lãng mạn cùng lúc màn hình riêng của mỗi đứa. Nhưng bất chấp mọi nỗ lực đồng bộ hóa quy tình nhấn nút play của chúng tôi, phim màn hình của luôn chiếu trước vài giây. Kết quả là trước mỗi tình huống buồn cười, đều cười trước khi tôi bắt đầu nghe câu thoại đó.


      Mẹ nảy ra kế hoạch vĩ đại là cả ba chúng tôi ngủ trong những giờ bay cuối cùng, sao cho khi hạ cánh vào lúc tám giờ sáng, chúng tôi ngủ đủ giấc và hoàn toàn tỉnh táo, sẵn sàng khám phá khắp mọi ngõ ngách của thành phố. Vì vậy, sau khi bộ phim kết thúc, Mẹ, Augustus và tôi cùng uống thuốc ngủ. Mẹ nhanh chóng ngủ khò trong vòng vài giây, nhưng Augustus và tôi vẫn thức và chong mắt nhìn ra ngoài cửa sổ trong lúc. Đó là ngày trời trong. Và dù thể nhìn thấy mặt trời lặn, hai đứa tôi vẫn thấy được ánh hoàng hôn phản chiếu qua các tầng mây.

      “Chúa ơi, đẹp quá!” tôi khẽ trầm trồ.

      “Những tia sáng hừng đông chiếu lấp lánh trong đôi mắt lòa của ,” đọc câu trong tác phẩm Nỗi đau tột cùng.

      “Nhưng giờ phải bình minh,” tôi chỉnh lại.

      “Mặt trời mọc ở nơi nào đó,” điềm nhiên đáp. lúc sau, tiếp: “Nhận xét: tuyệt nếu được du hành trong chiếc máy bay siêu nhanh để có thể đuổi theo mặt trời mọc ở vòng quanh thế giới hen!”

      “Khi đó ta có thể sống lâu hơn,” tôi khiến liếc nhìn tôi, vẻ thắc mắc. “ biết , theo thuyết tương đối hay gì đó,” tôi tiếp lời khi thấy vẫn chưa hết bối rồi, “chúng ta chậm lão hóa hơn khi di chuyển với tốc độ nhanh hơn so với đứng yên. Nên ngay bây giờ, thời gian trôi qua chậm hơn với chúng ta so với những người mặt đất.”

      “Quả nhiên là ‘’ đại học, chuyện cũng thông minh hẳn,” gật gù.

      Tôi trợn mắt nhìn . thúc đầu gối () của mình vào đầu gối của tôi và tôi cũng đẩy lại. “ buồn ngủ hả?” Tôi hỏi.

      “Đâu có đâu,” trả lời.

      “Ừ,” tôi thở dài. “Em cũng thấy buồn ngủ.” Thuốc ngủ và chất ngây mê đều phát huy tác dụng với tôi như những người bình thường khác.

      “Em có muốn xem bộ phim khác ?” hỏi.

      “Ở đây có bộ phim do Portman đóng từ Kỷ nguyên Hazel của chỉ nè.”

      “Em muốn xem phim gì mà chưa từng xem á.”

      Cuối cùng chúng tôi cùng xem phim 300, bộ phim chiến tranh kể về 300 chiến binh dũng mãnh Sparta trong cuộc chiến cân sức bảo vệ thành bang Sparta khỏi xâm lăng của đội quân Ba Tư đông có khi đến cả tỉ người. Phim bên màn hình Augustus vẫn bắt đầu trước bên tôi. Nên sau vài phút nghe hô, “Chết nè!” hay “Thảm quá!” mỗi khi có ai bị giết cách man rợn, tôi nghiêng mình và tựa đầu vai , quyết định xem màn hình của để chúng tôi thực cùng xem phim với nhau.

      300 quy tụ dàn diễn viên trẻ trung, hùng hậu, những chiến binh mình trần lưc lưỡng, da bóng nhẫy rất bắt mắt nên cũng dễ theo dõi. Tuy nhiên khiên giáo trong phim hình như chẳng có tác dụng gì. Thi thể lính Ba Tư và chiến binh Sparta cứ chồng chất lên nhau làm tôi thể tìm ra lý do tại sao lính Ba Tư lại tàn độc còn chiến bình Sparta lại dũng cảm như vậy. Theo tác phẩm Nỗi đau tột cùng “Tính đương thời phản ánh rệt trong những cuộc chiến mà ai mất mát bất cứ thứ gì dù giá trị to hay , trừ chính mạng sống của họ.” Và đó chính là cuộc chiến của mấy chàng khổng lồ choảng nhau kịch liệt này.

      Về cuối phim, hầu như tất cả mọi người đều chết, đội quân Sparta nảy ra ý tưởng điên rồ là xếp xác chết thành bức tường khổng lồ, ngáng giữa lính Ba Tư và con đường độc đạo dẫn vào thành bang Sparta. Tôi thấy chuyện đổ máu này cần thiết nên tôi quay mặt lúc và hỏi Augustus, “ nghĩ có bao nhiêu người chết vậy?”

      phẩy tay ra hiệu im lặng, “Suỵt. Suỵt. Tới khúc gay cấn nè.”

      Thế là khi tấn công, trong khi bọn lính Ba Tư phải hì hục leo lên bức tường xác này các chiến binh người Sparta chiếm ưu thế hơn vì đứng đỉnh núi thi thể. Và khi xác chồng xác, bức tường của các chiến sĩ hy sinh dũng càng cao chất ngất và khó leo hơn. Tất cả mọi người đều vung kiếm / bắn tên loạn xạ, khiến máu đổ thành sông từ Ngọn Núi Xác Chết này...

      Tôi ngồi thẳng người lên để tránh xem cảnh máu me rùng rợn mà thay vào đó, tôi nhìn Augustus xem phim. thể kìm kiểu cười ngốc ngếch của mình. Tôi nheo mắt nhìn lên màn hình phía bên tôi khi ngọn núi ngày càng lớn hơn vì xác của các bên tham chiến. Khi người Ba Tư cuối cùng thắng thế, tôi nhìn qua Augustus lần nữa. Và dường như hết sức vui vẻ mặc dù cái thiện vừa thua cái ác. Tôi lại rúc vào vai , nhưng lần này nhắm tịt mắt cho đến khi trận chiến kết thúc.

      Khi đến đoạn giới thiệu danh sách các diễn viên và ê-kíp đoàn làm phim, tháo tai nghe ra, “Xin lỗi nha, xem phim nhập tâm quá, cứ bị cuốn vào hy sinh cao thượng của người Sparta. Lúc nãy em gì vậy?”

      nghĩ có bao nhiêu người chết?”

      “Giống như có bao như nhân vật hư cấu chết trong bộ phim hư cấu này hả? Thấm tháp gì đâu,” đùa.

      , ý em là, tính từ hồi đó đến giờ sao?”

      vô tình biết được câu trả lời nè: có bảy tỉ người sống và khoảng chín mươi tám tỉ người chết.”

      “Ồ,” tôi thốt lên. Tôi cứ đinh ninh là do tốc độ tăng dân số quá nhanh nên tổng số người sống tăng cao hơn số người chết cộng lại chứ.

      “Tỷ lệ là khoảng mười bốn người chết người sống,” . Danh sách giới thiệu vẫn tiếp tục chạy màn hình. Phải mất thời gian dài để nhận diện những người chết, tôi đoán thế. Đầu tôi vẫn tựa vai . “ nghiên cứu về số liệu này vài năm trước đây,” Augustus tiếp. “Lúc đó tự hỏi liệu tất cả mọi người đều được nhớ đến . Giống như, nếu thế giới này được tổ chức chặt chẽ và mỗi người sống được chia lượng người chết liệu có đủ người còn sống để nhớ hết tất cả những người chết ?”

      “Thế có đủ ?”

      “Chắc chắn đủ, bất cứ ai cũng có thể nêu tên mười bốn người chết mà. Nhưng chúng ta là những kẻ khóc mướn vô tổ chức, nên rất nhiều người chỉ nhớ đến mỗi đại thi hào Shakespeare mà ai buồn nhớ đến người mà ông viết trong bài Xonê thứ Năm Mươi Lăm.”

      “Đúng vậy,” tôi thừa nhận.

      Im lặng hồi, hỏi tôi, “Em có muốn đọc sách hay làm gì ?” Tôi đồng ý. Thế là tôi bài thơ dài mang tên Tiếng Hú của Allen Ginsberg sáng tác mà lớp tôi học, còn Gus đọc lại cuốn Nỗi đau tột cùng. Được lát, lại hỏi:

      “Có gì hay ?”

      “Bài thơ á?”

      “Ừ.”

      “À, hay lắm. Mấy gã trong bài thơ này còn dùng nhiều thuốc hơn em. Còn NĐTC sao rồi?”

      “Vẫn xuất sắc. Hay em đọc thơ cho nghe .”

      “Đây thực phải là bài thơ thích hợp để đọc to khi quý phụ huynh say giấc nồng bên cạnh. Trong đó toàn mấy chuyện dâm dật và ma túy.”

      “Em vừa kể hai trong nhiều thứ tiêu khiển ưa thích của đó. Thế thôi, vậy em đọc cho nghe gì khác ?”

      “Ừm, nhưng em gì khác để đọc.”

      là chán mà. có hứng nghe thơ thẩn. Thế em có thuộc bài thơ nào ?”

      “Hãy cùng với nhau, em và ,” tôi rụt rè đọc, “Khi màn đêm vây kín bầu trời mênh mông / như bệnh nhân nằm mê man bàn mổ.”

      “Chậm chậm thôi em.”

      Tôi thấy hơi e dè, giống như lần đầu tôi kể với về tác phẩm Nỗi đau tột cùng vậy. “Ừm, được rồi. Được rồi. ‘Hãy cùng với nhau, băng qua những phố phường thưa thớt bóng người / Lắng nghe lời thầm của những đêm ngủ / Giấu mình trong khách sạn rẻ tiền vui tình đêm / hay trong nhà hàng mạt rệp vương vãi vỏ sò: / Những con đường nối tiếp nhau như mê cung miên man buồn tẻ / chứa trong lòng những mục đích sáng trong / Dẫn em đến câu hỏi bí choán cả tâm trí... / Ồ , xin em đừng hỏi, đừng hỏi “Đó là gì?” / Mà hãy cứ cùng và tự khám phá.’”

      em,” lặng lẽ .

      Augustus!”

      đó,” vừa vừa nhìn tôi chăm chăm. Tôi có thể thấy khóe mắt nheo lại. “ em và chẳng việc gì phải chối bỏ niềm vui được ra đó. em và biết tình này vô vọng, chắc chắn bị lãng quên, rằng chúng ta đều có số phận bi đát và rằng đến ngày mọi nỗ lực của cả hai ta đều trở về với cát bụi. cũng biết mặt trời rồi nuốt chửng hành tinh xanh của chúng ra nhưng vẫn em.”

      Augustus!” Tôi gọi tên lần nữa, biết gì thêm. Giống như mọi cảm xúc dâng trào trong tôi, như thể tôi đắm chìm trong niềm vui sướng lâng lâng pha chút tê tái trong lòng, nhưng tôi thể nên lời. Tôi thể bất cứ điều gì đáp lại . Tôi chỉ nhìn và để nhìn tôi cho đến khi khẽ gật đầu, mím chặt môi rồi quay , gục đầu lên thành cửa sổ.

    2. horcrux

      horcrux New Member

      Bài viết:
      27
      Được thích:
      2
      Chương 11


      Tôi nghĩ chắc thiu thiu ngủ rồi. Rốt cuộc tôi cũng chợp mắt được và chỉ bị đánh thức khi máy bay chuẩn bị hạ cánh. Miệng tôi đắng nghét làm tôi dám chuyện vì sợ đầu độc cả khoang hành khách.

      Tôi nhìn qua chỗ Augustus, suy sưa ngắm nhìn khung cảnh bên ngoài cửa sổ. Khi máy bay hạ thấp độ cao, tôi ngồi thẳng lên, rướn mình chiêm ngưỡng Hà Lan. Mảnh đất dường như bị nhấn chìm trong đại dương, những mảnh xanh hình chữ nhật nhắn được bao bọc tứ bề bởi các kênh đào nhân tạo. Máy bay đáp xuống, thực tế, song song với con kênh, giống như có hai đường băng: dành cho chúng tôi và dành cho loài chim nước.

      Sau khi lấy hành lý và làm thủ tục thông quan xong, cả ba chúng tôi leo lên chiếc taxi. Bác tài xế bị hói đầu và trông nhợt nhạt xanh xao nhưng tiếng rất sõi, thậm chí còn chuẩn hơn cả tôi. Tôi kêu: “Đến Khách sạn Filosoof.”

      Bác tài hỏi, “Chị và hai cháu là người Mỹ phải ?”

      Mẹ đáp, “Phải, chúng tôi đến từ bang Indiana.”

      “Indiana. Họ đánh cắp vùng đất từ người da đỏ và để lại tên cũ đúng ?”

      “Gần như vậy,” Mẹ . Chiếc taxi hòa mình vào dòng xe cộ và hướng về phía đường cao tốc. Tôi thấy rất nhiều bảng tên đường màu xanh với toàn nguyên đôi như Oosthuizen, Haarlem. Dọc hai bên đường cao tốc là những dải đất bằng phẳng trống trải kéo dài hàng dặm, thỉnh thoảng chấm phá vài trụ sở chính của các tập đoàn lớn. Tóm lại, Hà Lan trông chẳng khác gì Indianapolis, có điều là xe cộ hơn. “Đây là Amsterdam à?” Tôi hỏi bác tài.

      “Phải và .” ông trả lời. “Amsterdam giống như những vòng cây: càng vào đến trung tâm càng lâu đời cổ kính.”

      Thế là khung cảnh đột ngột thay đổi: Vừa ra khỏi đường cao tốc, tôi thấy những dãy nhà đúng như trong trí tưởng tượng của mình nhấp nhô chạy dọc theo các con kênh, xe đạp nhan nhản khắp nơi và các quán cà phê đều trưng bảng quảng cáo rầm rộ là có PHÒNG HÚT THUỐC LỚN. Xe băng qua con kênh và từ đỉnh đầu, tôi có thể thấy hàng chục nhà thuyền neo đậu dọc theo dòng nước. Giờ còn nét giống nước Mỹ của tôi nữa. Hà Lan thoắt biến thành bức tranh xưa cũ nhưng chân thực — mọi thứ đều bình yên lạ thường trong nắng sáng — và tôi cứ miên man suy nghĩ kỳ diệu dù hơi kỳ lạ khi sống ở vùng đất mà tất cả mọi thứ gần như do bàn tay của những con người chết xây đắp nên.

      “Có phải những ngôi nhà này rất lâu đời rồi đúng ?” Mẹ tôi hỏi.

      “Có nhiều nhà dọc kênh được xây từ Thời Đại Hoàng Kim vào thế kỷ mười bảy,” bác tài đáp. “Thành phố của chúng tôi có lịch sử lâu đời và đặc sắc dù nhiều du khách chỉ muốn tham quan Khu Đèn Đỏ.” Bác tài ngập ngừng. “ số du khách cứ nghĩ Amsterdam là thành phố tội lỗi, nhưng đây là thành phố của tự do. Và trong tự do đó, người ta thường tìm thấy tội lỗi.”


      Tất cả phòng trong Khách sạn Filosoof được đặt theo tên của các triết gia: hai mẹ con tôi ở phòng mang tên Kierkegaard ngay tầng trệt còn Augustus ở phòng Heidegger lầu . Gian phòng của chúng tôi khá : chiếc giường đôi kê sát tường cùng với máy thở BiPAP, máy tạo ô-xy cá nhân và hàng lô hàng lốc bình ô-xy có thể tái nạp để ngay chân giường. Qua khỏi mớ thiết bị lỉnh kỉnh là chiếc ghế hoa hòe hoa sói cũ kỹ, bám đầy bụi, ở giữa võng xuống vì quá nhiều người từng ngồi qua; chiếc bàn; và kệ sách phía giường tập hợp những tác phẩm sưu tầm của Soren Kierkegaard. Chúng tôi thấy bàn đặt sẵn giỏ mây để đầy ắp quà từ các vị thần Genie: giày gỗ, chiếc áo thun Hà Lan màu cam, sô--la, và nhiều món nho xinh xắn khác.

      Khách sạn Filosoof nằm ngay bên cạnh Vodelpark, công viên trứ danh nhất Amsterdam. Mẹ muốn dạo công viên ngay nhưng vì tôi quá đuối sức. Mẹ đành chụp mặt nạ thở BiPAP cho tôi. Tôi ghét phải chuyện khi đeo mặt nạ, nhưng vẫn ráng trấn an Mẹ, “Mẹ cứ ra công viên chơi . Khi nào thức dậy con gọi cho Mẹ ngay.”

      “Được rôi,” bà âu yếm. “Ngủ ngoan nhé, con .”


      Nhưng khi giật mình tỉnh giấc vài giờ sau, tôi thấy Mẹ ngồi chiếc ghế cổ kính trong góc phòng chăm chú đọc cuốn cẩm nang du lịch.

      “Chào buổi sáng,” tôi .

      ra giờ là cuối buổi chiều rồi,” bà thở dài đáp và đứng dậy, đến bên giường, đặt chiếc bình ô-xy vào giá thép, nối dây rồi cài cho tôi, trong khi tôi tháo mặt nạ BiPAP ra và đặt đầu phun ô-xy vào mũi. Mẹ đặt chế độ hai lít rưỡi mỗi giờ, như vậy tôi có sáu giờ tự do hoạt động trước khi phải thay bình mới. Tôi đứng dậy sau khi được trang bị đầy đủ. “Con thấy trong người thế nào?” Bà hỏi.

      “Tốt ạ. Con thấy tinh thần rất sảng khoái. Còn công viên Vondelpark sao ạ?”

      “Mẹ dẹp kế hoạch đó rồi. Thay vào đó, Mẹ nghiên cứu cuốn cẩm nang du lịch.”

      “Mẹ ơi, Mẹ cần ở đây với con miết như vậy đâu?”

      Bà nhún vai. “Ừ, Mẹ biết. Nhưng Mẹ muốn thế, Mẹ thích ngắm con ngủ mà. Nghe giống như mấy kẻ hay rình rập quá ha!” Bà bật cười, nhưng tôi vẫn chưa cảm thấy thoải mái tí nào.

      “Con chỉ muốn Mẹ vui chơi, thăm thú chỗ này chỗ kia, Mẹ hiểu ?”

      “Được rồi. Tối nay Mẹ vui chơi thỏa thích, chịu chưa? Mẹ chơi đủ mọi trò giải trí của bà mẹ trong khi con và Augustus ăn tối.”

      “Thế Mẹ cùng à?” Tôi thắc mắc.

      “Ừ, có Mẹ. ra bàn đặt trước theo tên con ở chỗ gọi là Oranjee. Trợ lý của ông Van Houten thu xếp chuyện này. Chỗ đó nằm trong khu Jordaan cạnh đây. Rất lý tưởng, theo như cuốn cẩm nang giới thiệu. Có trạm xe điện ngay góc đường. Augustus có chỉ dẫn đường . Con có thể ăn tối ngoài trời và ngắm nhìn tàu thuyền qua lại. rất thú vị. Rất lãng mạn.”

      “Mẹ.”

      Mẹ chỉ thế thôi. Con nên thay quần áo . Mặc đầm mùa hè tay, được ?”

      Người ta có thể ngạc nhiên trước điên rồ của tình huống này: người mẹ giao đứa con mười sáu tuổi của mình cho chàng mười bảy tuổi lang thang giữa thành phố xa lạ ở đất nước xa lạ vốn nổi tiếng về buông thả. Nhưng đây, đồng thời, cũng là tác dụng phụ của chờ chết: Tôi thể chạy hoặc nhảy hoặc ăn các thực phẩm giàu ni-tơ, nhưng Mẹ cũng chẳng kèm cặp gì nên tôi hoàn toàn được giải phóng trong thành phố của tự do.

      Cuối cùng tôi diện đầm mùa hè in hoa xanh, dài chấm gối của hiệu Forever 21 với quần bó và mang giày Mary Janes bởi vì tôi thích mình thấp hơn nhiều so với . Tôi vào cái phòng tắm bé tẹo đến buồn cười và đánh vật với cái đầu bù xù của mình cho đến khi từ xuống dưới đều chỉnh chu như nàng Natalie Portman chính hiệu giữa những năm 2000. Khi đồng hồ chỉ sáu giờ tối (là giữa trưa ở Mỹ), chúng tôi nghe thấy tiếng gõ cửa.

      “Xin chào?” Tôi qua cánh cửa. Cửa các phòng trong Khách sạn Filosoof có lỗ mắt thần.

      “Okay,” tiếng Augustus vọng vào. Tôi có thể nghe ra ngậm thuốc lá trong miệng. Tôi cúi nhìn lần nữa, chiếc đầm mùa hè phô phang được xương cổ và lồng ngực của tôi mà trước đây Augustus từng thấy qua. Nó quá khiêu khích hay gợi ý gì, chỉ là hơi phô bày tí tí da thịt thôi. (Mẹ tôi có phương châm phương diện này mà tôi hoàn toàn tán thành: “Nhà Lancasters luôn ăn mặc kín đáo.”)

      Tôi kéo mở cánh cửa. Augustus mặc bộ suit đen, ve áo hẹp, may ôm khít người, bên trong là chiếc áo sơ-mi màu xanh lơ và cà-vạt bản màu đen. điếu thuốc treo hờ ở khóe miệng nghiêm trang của . “Hazel Grace,” thốt lên, “nhìn em xinh quá!”

      “Em,” tôi . Tôi cứ nghĩ phần còn lại của câu tự phát ra từ luồng khí qua dây thanh của tôi nhưng chẳng có thêm từ nào cả. Sau cùng, tôi , “Em thấy hơi thiếu vải.”

      “À, lại chuyện cũ rích ấy nữa à?” hỏi, cúi xuống nhìn tôi cười.

      “Augustus,” Mẹ vọng từ sau lưng tôi, “cháu nhìn là bảnh.”

      “Cảm ơn bác,” đáp. Xong chìa tay ra. Tôi nắm tay , và xoay lại chào Mẹ. Bà :

      “Hẹn gặp con lúc mười giờ tối nay.”


      Trong lúc chờ tuyến xe điện số con đường rộng thênh nhưng vẫn chật ních xe cộ, tôi với Augustus, “Em đoán đây là bộ suit mặc dự tang lễ, đúng ?”

      “Thực ra là phải,” . “Bộ đó chẳng được đẹp như vậy đâu.”

      Chiếc xe điện xanh - trắng ghé vào trạm. Augustus chìa thẻ của chúng tôi cho bác tài xem và được bác tài giải thích rằng chúng tôi phải chìa nó trước đầu cảm biến hình tròn. Khi chúng tôi len lỏi chiếc xe điện đông đúc này ông lão đứng lên nhường chỗ cho hai đứa ngồi với nhau. Và dù tôi cố gắng rằng ông cứ ngồi đó nhưng ông mực nhường tôi cái ghế trống. Tôi nhoài người về phía Gus để có thể nhìn ké khung cảnh ngoài cửa sổ trong khi chiếc xe điện chạy qua ba trạm dừng.

      Augustus chỉ lên những tán cây và hỏi: “Em có thấy gì ?”

      Tôi thấy chứ. Cây du mọc ở khắp nơi, soi bóng bên dòng kênh, và mùa này cây ra hạt, các hạt giống bị gió thổi bay lả tả trong trung. Nhưng chúng nhìn như hạt giống tí nào, mà lại như những cánh hoa hồng li ti phai nhạt màu. Mấy cánh hoa phơn phớt hồng được gió thổi tung lên như những đàn chim — hàng ngàn bông chụm lại, tựa như cơn bão tuyết mùa xuân.

      Ông cụ vừa nhường chỗ thấy hai đứa say sưa ngắm nhìn khung cảnh đó, bèn bằng tiếng , “Tuyết xuân của Amsterdam đó. Cây iepen nem hoa giấy lên trời để chào đón mùa xuân.”

      Chúng tôi đổi tuyến xe điện, và qua thêm bốn trạm nữa đến con đường ngăn đôi bởi dòng kênh tuyệt đẹp. Mặt nước lao xao bên dưới phản chiếu hình ảnh cây cầu cổ kính và những dãy nhà đẹp như tranh vẽ chạy dọc theo hai bên bờ kênh.

      Nhà hàng Oranjee chỉ cách trạm xe điện vài bước. Nhà hàng ở bên này đường và phía bên kia là khu ngồi ngoài trời — khu thủy tạ xây bằng bê-tông nằm ngay bờ kênh. Đôi mắt của chị tiếp viên sáng lên khi thấy Augustus và tôi tới gần. “ chị Waters phải ạ?”

      “Dạ phải,” tôi đáp.

      “Bàn của chị ở đằng kia,” chị và chỉ vào chiếc bàn ở phía bên kia đường, ngay mé bờ kênh. “Sâm-banh khai vị là quà tặng của nhà hàng.”

      Gus và tôi nhìn nhau mỉm cười. Sau khi băng qua đường đến bàn, lịch kéo ghế mời tôi ngồi và đẩy giúp vào trở lại. Quả chiếc bàn trải khăn trắng bày sẵn hai ly rượu để uông sâm-banh. Ánh mặt trời chói chang thêm chút hơi ấm cho tiết trời se lạnh. Phía bên kia chúng tôi, dọc ngoài đường , mấy chiếc xe đạp nhàn tản chạy qua, đó là nam thanh nữ tú ăn mặc thanh lịch đường từ sở làm về nhà, mấy nàng tóc vàng duyên dáng thong thả đạp xe đạp đôi cùng bạn trai, bọn trẻ con để đầu trần đội mũ bảo hiểm cứ luôn miệng ríu rít yên ghế sau lưng ba mẹ chúng. Và phía bên đây là dòng kênh lặng lờ trôi với hàng triệu hoa-giấy-hạt-du li ti. Những con thuyền neo dọc bờ kênh lót gạch, trong lòng thuyền xâm xấp nước mưa, số chiếc trông như sắp chìm. Xa hơn phía cuối con kênh thấp thoáng mấy ngôi nhà truyền bập bềnh phao nổi và ngay giữa dòng kênh, chiếc thuyền mui đáy bằng lững lờ trôi về phía chúng tôi, boong thuyền kê vài chiếc ghế vải cùng chiếc cassette. Augustus nâng ly sâm-banh của lên, tôi cũng cầm lấy ly của mình mặc dù tôi chưa bao giờ thử thức uống có cồn trừ vài ngụm bia nhấm nháp của Ba.

      “Okay,” hóm hỉnh.

      “Okay,” tôi , và chúng tôi cụng ly. Tôi nhấp ngụm. Rượu sóng sánh sủi bọt, vô vàn bọt tăm tan trong miệng và di chuyển lên trung ương não của tôi. Ngọt. Thanh. Ngon. “Ngon ,” tôi hào hứng. “Trước đây em chưa từng uống sâm-banh.”

      phục vụ trông cường tráng với mái tóc vàng gợn sóng xuất . ấy, thậm chí có thể còn hơn cả Augustus, chợt hỏi bằng giọng truyền cảm: “Quý khách có biết Dom Pérignon phát biểu gì sau khi phát minh ra rượu sâm-banh ?

      ?” Tôi khỏi tò mò.

      “Ông ấy giục các tu sĩ đồng môn, ‘Đến đây nhanh nào: Tôi nếm các vì sao.’ Hoan nghênh quý khách đến chơi Amsterdam. Quý khách có muốn xem qua thực đơn, hay muốn thưởng thức các món do bếp trưởng của chúng tôi giới thiệu?”

      Tôi nhìn Augustus và cũng nhìn tôi. “Món do bếp trưởng giới thiệu nghe hấp dẫn , nhưng Hazel lại ăn chay.” Tôi chỉ từng qua chuyện này với Augustus duy nhất lần thôi, vào ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau.

      thành vấn đề,” phục vụ vui vẻ .

      “Hay quá! Thế chúng tôi có được uống thêm sâm-banh ?” Gus hỏi.

      “Rất hân hạnh được phục vụ,” chàng phục vụ đáp, “Chúng tôi gom tất cả sao bầu trời tối nay đóng vào chai rồi, thưa hai bạn. Ây, hoa giấy,” thốt lên và lẹ làng phủi hạt giống bám cánh vai trần của tôi. “Nhiều năm rồi hạt rơi rụng nhiều như vậy, giờ nhan nhản khắp nơi. bực mình.”

      chàng phục vụ biến mất. Chúng tôi lặng ngắm hoa giấy lác đác rơi trong trung. chao nghiêng trước gió và cuối cùng đáp xuống dòng kênh. Sau hồi, Augustus nhận xét, “ khó tin là có người lại bực mình mấy hạt hoa giấy này.”

      “Tuy vậy mọi người đều quen thuộc với cái đẹp.”

      vẫn chưa quen thuộc với em đấy thôi,” rãnh mãnh đối đáp. Tôi ý thức được mình đỏ mặt. “Cảm ơn em đến Amsterdam,” bảo.

      “Cảm ơn cho em đánh cướp điều ước của ,” tôi .

      “Cảm ơn em diện chiếc áo mà phải thốt lên ‘oa’,” tiếp tục. Tôi lắc đầu, cố mỉm cười với . Tôi muốn là quả lựu đạn. Nhưng lần nữa, hẳn biết những gì mình làm chứ, đúng ? Đó cũng là lựa chọn của mà. “Này, vậy bài thơ kết thúc thế nào vậy?” chợt đổi đề tài.

      “Hả?”

      “Bài thơ mà em đọc cho nghe ở máy bay đó.”

      “Ồ, ‘Prufrock’ đó hả? Nó kết thúc như vậy, ‘Đôi ta nấn nã chiếc giường biển cả / Cạnh những nàng tiên cá kết rong biển nâu và tảo đỏ làm vòng hoa / Cho đến khi tiếng của loài người đánh thức chúng ta, và cả hai chìm xuống.’”

      Augustus rút ra điếu thuốc và gõ đầu lọc xuống bàn. “Tiếng ngu ngốc của loài người luôn làm hỏng mọi thứ.”

      phục vụ mang thêm hai ly sâm-banh và món mà giới thiệu là “Măng tây trắng của Bỉ ướp hoa oải hương.”

      cũng chưa bao giờ uống sâm-banh,” Gus sau khi phục vụ khỏi. “Phòng khi em thắc mắc này nọ, cũng chưa từng nếm qua măng tây trắng.”

      Tôi thưởng thức miếng đầu tiên đĩa của mình. “Ngon tuyệt!” tôi xuýt xoa khen.

      cũng cắn thử miếng, thong thả nhai rồi nuốt. “Lạy Chúa. Nếu măng tây lúc nào cũng có vị thế này cũng muốn thành người ăn chay luôn.” dòng kênh bên dưới có chiếc thuyền gỗ sơn chầm chậm tiến về phía chúng tôi. người phụ nữ đó, trạc ba mươi tuổi với mái tóc vàng uốn xoăn, tay nâng ly bia uống hướng về phía chúng tôi và hét lên gì đó.

      “Chúng tôi biết tiếng Hà Lan,” Gus hét lại.

      người khác thuyền diễn giải: “ cặp đẹp đôi.”


      Thức ăn ngon tuyệt đến nỗi cứ sau mỗi món được dọn ra, cuộc trò chuyện của chúng tôi dần chuyển sang tán dương món ngon trước mắt: “ ước gì món cơm Ý trộn cà rốt này biến thành để có thể dắt ấy qua Las Vegas và kết hôn với .” “Kem đậu, cưng ngon tuyệt cú mèo.” Tôi ước sao mình còn bụng để ăn.

      Sau khi dẹp món mì gnocchi vị tỏi xanh với lá mù tạt đỏ, phục vụ thông báo. “Tiếp theo là món tráng miệng. Nhưng nếm thêm sao trước nhé?” Tôi lắc đầu, hai ly là đủ rồi. Sâm-banh phải là ngoại lệ với sức chịu đựng cao của tôi cũng giống như đối với thuốc chống trầm cảm và thuốc giảm đau, tôi cảm thấy ấm áp nhưng say. Nhưng tôi muốn mình say. dễ gì có những đêm tuyệt diệu như thế này và tôi muốn mình tỉnh táo để ghi nhớ nó.

      “Mmmm,” tôi khẽ thốt lên sau khi phục vụ rời khỏi. Augustus nhếch miệng cười khi nhìn chằm chằm xuống dòng kênh còn tôi ngước lên nhìn bầu trời. Chúng tôi có nhiều thứ để chiêm ngưỡng nên thấy bầu khí im lặng này kỳ cục lắm. Tuy nhiên tôi muốn mọi chuyện đều hoàn hảo. Theo tôi, có cũng hoàn hảo rồi, nhưng cứ có cảm giác ai đó cố dàn dựng Amsterdam theo trí tưởng tượng của tôi, khiến tôi sao dứt bỏ được suy nghĩ rằng bữa tối hôm nay, cũng giống như chuyến du lịch này, chỉ là đặc quyền dành cho bệnh nhân ung thư thôi. Tôi chỉ muốn chúng tôi chuyện và cười đùa thoải mái, giống như hồi hai đứa cùng ngồi tâm chiếc xô-pha ở nhà, nhưng có căng thẳng nào phá hỏng mọi thứ.

      “Đây phải là bộ suit dự tang lễ của ,” chợt lên tiếng sau hồi im lặng. “Khi mới phát ra bệnh — ý là khi các bác sĩ cho biết có khoảng tám mươi lăm phần trăm cơ hội chữa khỏi bệnh. biết tỷ lệ như vậy là cao nhưng vẫn nghĩ đây là trò đánh bài ru-let của Nga. Ý là, phải trải qua địa ngục trong sáu tháng hoặc năm, bị cụt chân và rồi cuối cùng, vẫn chữa khỏi, em hiểu ?”

      “Em hiểu,” tôi đáp, dù thực hiểu lắm. Ngay từ khi phát bệnh tôi ở giai đoạn cuối; mọi điều trị chỉ nhằm kéo dài mạng sống của tôi, chứ phải chữa bênh ung thư. Phalanxifor góp liệu pháp mơ hồ vào câu chuyện ung thư của tôi nhưng tôi khác với Augustus: chương cuối của đời tôi được viết ngay khi chuẩn đoán. Gus, giống như hầu hết những người sống sót qua ung thư, đều sống với tâm trạng phập phồng chắc chắn.

      “Phải,” . “Vì vậy đối mặt bằng cách chuẩn bị sẵn sàng. Nhà mua lô đất ở nghĩa trang Crown Hill, và rảo vòng với ba và chọn được chỗ ưng ý. lên kế hoạch toàn bộ cho đám tang của mình và mọi chi tiết khác. Rồi ngay trước khi phẫu thuật, hỏi ba mẹ liệu có thể mua bộ suit, đại loại là bộ suit oách phòng trường hợp qua khỏi . Dù sao vẫn bao giờ có dịp mặc nó. Cho đến tận tối nay.”

      “Hóa ra đây là bộ suit tử phục của .”

      “Đúng. Chứ em có bộ tử phục nào à?”

      “Có chứ,” tôi đáp. “Đó là bộ đầm em mua vào dịp sinh nhật lần thứ mười lăm. Nhưng em mặc nó hẹn hò.”

      Đôi mắt sáng lên. “Vậy là chúng ta hẹn hò hả?”

      Tôi cụp mắt xuống, có phần e thẹn. “Đừng đẩy câu chuyện xa mà.”


      Cả hai chúng tôi đều no căng bụng, nhưng món tráng miệng — miếng bánh kem crémeux béo ngậy phủ chanh dây — trông ngon lành đến nỗi cả , cả tôi đều thể cầm lòng. Thế là chúng tôi nấn ná lúc, chờ bụng đói trở lại. Mặt trời cứ lì lợm chưa chịu ngủ: quá tám giờ rưỡi tối mà trời vẫn còn sáng.

      Đột nhiên Augustus hỏi, “Em có tin vào kiếp sau ?”

      “Em nghĩ vĩnh hằng là khái niệm chính xác,” tôi trả lời.

      nhếch miệng cười. “Em là khái niệm chính xác.”

      “Em biết. Đó là lý do tại sao em được luân hồi.”

      “Chuyện đó có gì vui cả,” rồi nhìn ra đường. Có hai chạy xe đạp ngang qua, ở phía sau ngồi về bên.

      “Thôi nào,” tôi thốt lên. “Em chỉ đùa tí mà.”

      “Suy nghĩ em được luân hồi với chẳng vui tí nào,” . “Nghiêm túc nào, em có tin rằng có kiếp sau ?”

      ,” tôi , rồi sau đó sửa lại. “À, có lẽ em khẳng định hoàn toàn là . Còn ?”

      “Có,” đáp, giọng đầy tự tin. “Chắc chắn là có. hẳn như thiên đường nơi em cưỡi kỳ lân, thổi đàn hạc, và sống trong dinh thự xây bằng mây. Nhưng có. tin là có mọt Kiếp khác với chữ K viết hoa tồn tại. luôn tin như thế.”

      ?” tôi hỏi, tránh khỏi ngạc nhiên. Từ trước đến nay tôi luôn nghĩ đức tin vào thiên đường, cách thẳng thắn, là xa rời tri thức khoa học. Nhưng Gus đâu phải ngốc.

      “Ừ,” lặng lẽ . “ tin vào câu trọn cuốn Nỗi đau tột cùng: ‘Ánh mặt trời chói chang tỏa nắng trong đôi mắt lòa của nàng.’ nghĩ ánh mặt trời là Chúa Trời và ánh sáng Người soi rọi toàn nhân loại, còn đôi mắt của ấy chỉ mới lòa chứ chưa mù hẳn. tin rằng việc chúng ta luân hồi ở kiếp sau để ám ảnh hay an ủi những người còn sống, mà cho rằng chúng ta biến đổi thành thứ gì đó.”

      “Nhưng sợ bị lãng quên mà.”

      “Dĩ nhiên, sợ lãng quên của trần thế. Nhưng lẩm cẩm như ba mẹ ở nhà, tin rằng con người có linh hồn, và tin chuyện linh hồn siêu thoát. Nỗi sợ bị lãng quên thuộc phạm trù khác, sợ rằng thể cống hiến cái gì để đổi lấy cuộc đời của mình. Nếu ta sống cuộc sống có ích ít ra ta phải chết cái chết có ý nghĩa, em hiểu ? Và sợ rằng có được cuộc sống hay thậm chí cái chết có ý nghĩa như vậy.”

      Tôi chỉ lắc đầu.

      “Sao thế?” hỏi.

      “Nỗi ám ảnh của về chuyện chết cho lý tưởng cao đẹp hay để lại dấu ấn về cuộc đời hùng của . Nghe lạ!”

      “Ai cũng muốn sống cuộc sống phi thường mà em.”

      phải tất cả mọi người đều như vậy,” tôi đáp, thể che giấu khó chịu của mình.

      “Em bực mình hả?”

      “Chỉ là,” tôi nhưng sau đó thể hoàn thành câu của mình. “Chỉ là,” tôi lặp lại lần nữa. Ánh nến lung linh bàn. “ là ích kỷ khi tuyên bố rằng cuộc đời có ý nghĩa chỉ là cuộc đời của những người sống hoặc chết vì lý tưởng gì đó. ích kỷ khi thế với em.”

      Vì lý do gì đó, tôi thấy mình trẻ con, thế là tôi bèn cắn góc bánh tráng miệng tỏ vẻ có gì to tát với tôi. “Xin lỗi em,” . “ có ý như vậy. chỉ nghĩ về bản thân thôi.”

      “Ừ, em biết,” tôi . Tôi quá no thể ăn tiếp được, no đến nỗi tôi lo ngại là mình nôn ra hết. Bởi tình tôi cũng hay nôn mửa sau khi ăn. ( phải tôi ăn uống vô độ đâu, mà là do căn bệnh ung thư đấy.) Tôi đẩy đĩa bánh tráng miệng của mình về phía Gus nhưng lắc đầu từ chối.

      xin lỗi,” lặp lại rồi với tay sang nắm lấy tay tôi. Tôi để cầm lấy tay mình. “ có thể tệ hơn, em biết ?”

      “Tệ như thế nào?” Tôi hỏi, có ý đùa bỡn.

      “Như là, ở nhà , bồn cầu có treo bức thư pháp ghi là, ‘Hãy tắm rửa mỗi ngày theo lời răn trong sách Phúc ,’ Hazel à, có thể tệ hơn nữa.”

      “Nghe ghê quá,” tôi .

      có thể tệ hơn.”

      có thể tệ hơn.” Tôi mỉm cười. thực thích tôi. Có lẽ tôi là người tự mình thái quá nhưng khi tôi nhận ra này ngay lúc đó ở Nhà hàng Oranjee, tôi càng thấy thích nhiều hơn.

      Khi phục vụ đến dọn món tráng miệng , với chúng tôi, “Bữa tối của chị được ông Peter Van Houten thanh toán.”

      Augustus mỉm cười, “Ông nhà văn Peter Van Houten này tệ nhỉ!”


      Chúng tôi tản bộ dọc bờ kênh khi trời sập tối. Khi đến cách Nhà hàng Oranjee dãy nhà, chúng tôi dừng lại ở băng ghế đá, vây quanh là vô số những chiếc xe đạp cũ, hoen gỉ được khóa vào khung giữ xe và khóa vào với nhau. Chúng tôi ngồi xuống cạnh nhau, nhìn mông lung ra con kênh trước mặt, và đưa tay ôm lấy tôi.

      Tôi có thể nhìn thấy đèn sáng nhấp nháy từ Khu Đèn Đỏ. Mặc dù nó có tên là Khu Đèn Đỏ nhưng ánh sáng hắt ra từ khu đó kỳ lạ lại là màu xanh lục. Tôi tưởng tượng đến hàng ngàn du khách say lướt khướt; say còn biết trời trăng gì bước loạng choạng trong mấy con ngõ chật hẹp.

      “Em thể tin là ngày mai ông ấy cho chúng ta nghe phần kết,” tôi . “Peter Van Houten bật mí cho chúng ta biết đoạn kết bí chưa được viết của cuốn sách hay nhất trần đời này.”

      điểm cộng nữa là ông ấy thanh toán cho bữa tối hôm nay của chúng ta,” Augustus thêm.

      “Em cứ tưởng tượng là ngày mai ông ấy lục soát người chúng ta để tìm các thiết bị ghi trước khi tiết lộ câu chuyện. Và sau đó ông ấy ngồi giữa hai đứa mình ghế xô-pha trong phòng khách và thầm bật mí xem liệu mẹ của Anna có kết hôn với Chú Tulip Hà Lan hay ?”

      “Đừng quên chú chuột hamster Sisyphus,” Augustus nhắc.

      “Phải rồi ha, dĩ nhiên là còn số phận của chú chuột hamster Sisyphus nữa.” Tôi nghiêng người về phía trước, để ngắm nhìn con kênh, trong ngồ ngộ. “ phần tiếp theo chỉ dành riêng cho chúng ta,” tôi .

      “Theo phỏng đoán của em, câu chuyện kết thúc như thế nào?” hỏi.

      “Em cũng biết nữa. Em đọc tới đọc lui hàng ngàn lần tác phẩm đó. Mỗi lần đọc, em lại có kết luận khác, biết ?” gật đầu. “Thế có giả thiết gì ?”

      “Có chứ. nghĩ Chú Tulip Hà Lan là kẻ lừa gạt nhưng ông cũng giàu như vẻ bề ngoài thể . Và nghĩ rằng sau khi Anna qua đời, mẹ của Anna sang Hà Lan với ông ấy và tin rằng hai người sống bên nhau mãi mãi. Nhưng câu chuyện thành bởi vì bà muốn được ở gần nơi con mình từng sống.”

      Tôi biết là suy nghĩ về cuốn sách nhiều như vậy, rằng tác phẩm Nỗi đau tột cùng chiếm góc hoàn toàn độc lập trong tâm trí của Gus với góc dành riêng cho tôi.

      Nước lặng lẽ vỗ vào kè đá dưới chân chúng tôi; nhóm thanh niên đạp xe ngang qua, tíu tít bằng tiếng Hà Lan; mấy chiếc thuyền cứ dập dềnh mấp mé mép nước; mùi nước kênh tù đọng quá lâu thỉnh thoảng phả lên; chợt kéo tôi vào lòng; chân () tì vào chân (dĩ nhiên là ) của tôi. Tôi hơi tựa người vào lòng . nhăn mặt. “Xin lỗi, sao chứ?”

      khẽ đáp sao bằng giọng ràng là đau đớn.

      “Xin lỗi,” tôi . “Vai em toàn xương .”

      sao,” đáp. “ ra nó đẹp mà.”

      Chúng tôi ngồi đó lúc lâu. Cuối cùng cũng rút tay khỏi vai tôi và để tựa lưng ghế đá công viên. Phần lớn thời gian chúng tôi chỉ nhìn xuống dòng kênh. Tôi cứ miên man suy nghĩ hiểu cách nào họ giữ nơi đây tồn tại mặc dù có lẽ chìm dưới nước, và tôi đối với Bác sĩ Maria cũng hao hao như Amsterdam, ca bệnh bất thường sắp chết chìm, và nó lại khiến tôi nghĩ đến chờ chết. “Em có thể hỏi về chị Caroline Mathers ?”

      “Vậy mà em có kiếp sau,” trả lời mà nhìn tôi. “Nhưng, tất nhiên, em muốn biết gì?”

      Tôi muốn biết rằng sao nếu tôi chết. Tôi muốn mình phải là quả lựu đạn hay là nhân tố xấu ảnh hưởng đến cuộc sống của những người tôi . “ chỉ cần kể những chuyện xảy ra.”

      thở dài, dài đến nỗi giống như khoe khoang trước hai lá phổi dở hơi của tôi. bập điếu thuốc mới lên môi. “Em biết đó, chẳng có nơi nào kém náo nhiệt hơn là sân chơi của bệnh viện.” Tôi gật đầu đồng ý. “Ừ, khi đó nằm lại Bệnh viện Memorial thêm vài tuần sau ca phẫu thuật tháo khớp chân. nằm tầng năm và nhìn xuống toàn cảnh sân chơi, nơi dĩ nhiên bóng người lui tới. Lúc đó trong đầu tràn ngập hình ảnh dụ sâu sắc và thiếu sức sống của sân bóng trống huơ trống hoác ở bệnh viện. Thế rồi ấy bắt đầu xuất ở sân chơi, đơn độc lẻ loi, mỗi ngày ngồi đong đưa mình chiếc xích đu, giống cảnh em thường thấy phim. Vì vậy nhờ chị y tá tốt bụng tìm hiểu thêm về nàng bí đó. Chị y tá liền dẫn ấy lên thăm, và đó là chị Caroline. dùng sức quyến rũ chết người của mình để lấy lòng ấy.” ngừng lại, nên tôi quyết định lên tiếng.

      chẳng quyến rũ đến như vậy đâu,” tôi nhàng chỉnh lại. tỏ vẻ tin và chế giễu tôi. “ chỉ nhìn bảnh thôi chớ đến mức quyến rũ chết người,” tôi giải thích.

      cười xòa. “Có điều đối với người khuất,” định gì đó nhưng chợt khựng lại, ngập ngừng. “Đối với người khuất, nếu ta thi vị hóa câu chuyện ta cũng chẳng khác nào kẻ ra gì, nhưng nếu ... nó rất phức tạp, vậy đó. Giống như em quen với lối kể chuyện tu từ bóng bẩy về những nạn nhân ung thư phải đối mặt với nghịch cảnh và quyết tâm vượt lên số phận, oanh liệt chiến đầu với căn bệnh nghiệt ngã còn bằng sức mạnh của người bình thường nữa mà bao giờ buông lời phàn nàn hay tắt nụ cười môi cho đến khi ‘sức tàn lực kiệt’ mới thôi, đại loại thế.”

      mà,” tôi . “Họ là những linh hồn tốt bụng và hào phóng mà từng giây phút họ sống như thổi Luồng Cảm Hứng khích lệ cho Tất Cả Chúng Ta. Họ mạnh mẽ và đáng ngưỡng mộ mà!”

      “Đúng, nhưng ra theo thống kê, ý tính chúng ta nha, bệnh nhi ung thư thường có khuynh hướng là những nhân vật tuyệt vời, hay động lòng trắc hoặc kiên gan bền chí, kiểu kiểu vậy đó. Còn Caroline luôn luôn rầu rĩ nhàu nhĩ. Ấy vậy mà lại thích thế, cảm giác như thể là người duy nhất được ấy chọn ghét bỏ thế giới này. Và thế là trong suốt khoảng thời gian đó chỉ toàn nghe thấy ấy rầy rà phê bình người khác thôi, em hiểu ? Kêu ca từ mấy y tá đến các bệnh nhi khác, về cả gia đình của chính ấy và mọi chuyện khác. Và biết đó là bản chất của ấy hay do khối u gây ra nữa. Tại có lần y tá chăm sóc cho ấy với là loại ung thư mà Caroline mắc phải được giới y học gọi là Khối u Đê tiện, bởi vì nó biến bệnh nhân thành quái vật. Thế nên đó là nàng bị tổn thương phần năm não bộ với Khối u Đê tiện vừa mới tái phát, và vì vậy ấy phải là, em biết đấy, hình tượng mẫu mực của chủ nghĩa hùng như các bệnh nhi ung thư biết vượt lên số phận. ấy... thẳng ra là khác gì bà chằn. Nhưng ta thể trắng ra như vậy, vì ấy mang trong người khối u này, và bởi vì ấy cũng chết rồi. Và ấy có hàng tá lý do để khó chịu, em biết ?”

      Tôi biết.

      “Em có nhớ đoạn trong cuốn Nỗi đau tột cùng khi Anna băng ngang sân bóng để đến lớp thể dục gì đó và bạn ấy bị ngã đập mặt xuống cỏ ? Đó là lúc bạn ấy biết rằng bệnh ung thư tái phát trở lại và tấn công hệ thần kinh của bạn ấy, bạn ấy thể tự đứng dậy được. Bạn ấy nằm chết trân sân bóng, nhìn đám cỏ ở cự li gần, ghi nhận được ánh nắng lung linh tưng ngọn cỏ... thuộc từng câu từng lời trong đó, nhưng đại ý là Anna khám phá vĩ đại kiểu Walt Whitman: định nghĩa về nhân tính là khoảnh khắc mà chúng ta thấy kinh ngạc trước vẻ uy nghi của tạo hóa hay bất cứ điều gì. Em có nhớ đoạn đó ?”

      “Em nhớ đoạn đó,” tôi đáp.

      “Trở lại câu chuyện, dù khi đó bị tước mất chân do hóa trị nhưng vẫn quyết định lấy lại niềm tin và hy vọng. hẳn vì sống sót, mà vì cảm thấy giống như Anna trong tác phẩm vậy, chính là cảm giác hứng thú và biết ơn về việc còn có thể kinh ngạc trước các việc quanh mình.”

      “Trong khi đó, ngược lại, Caroline ngày càng trở nên tệ hại. ấy được xuất viện về nhà sau thời gian và có những khoảnh khắc mà nghĩ rằng hai đứa có thể có mối quan hệ bình thường nhưng thể. Bởi ấy biết chắt lọc giữa suy nghĩ và lời của mình, cứ thường xuyên thốt ra những lời buồn bã, khó chịu và thường khiến người nghe bị tổn thương. Tuy nhiên ta thể chia tay với bị u não. Ba mẹ ấy đều thương quý , và chưa kể ấy còn có đứa em trai thực rất kháu. Ý là, làm sao có thể chấm dứt với ấy cơ chứ! ấy sắp chết mà.”

      “Chuyện cứ dây dưa dai dẳng như vậy. Phải mất gần năm, và trong năm đó phải chơi với nàng mà cứ lâu lâu lại bật cười ngớ ngẩn, rồi còn chỉ vào cái chân giả của và gọi là Chàng Lùn.”

      “Ôi .” tôi kêu lên.

      “Thế đó. Ý là, đó là do khối u, nó ăn não của ấy, em hiểu ? Hoặc cũng có thể phải do khối u. chẳng thể nào biết được, bởi vì cả hai tách rời nhau - ấy và khối u. Nhưng khi ấy trở bệnh nặng hơn, ấy cứ lặp lặp lại những câu chuyện cũ và cười nhạo ý kiến nhận xét của chính mình ngay cả khi ấy lải nhải điều tương tự cả trăm lần trong ngày. Giống như ấy cứ giễu cợt hàng tuần liền là: ‘Gus có đôi chân tuyệt vời. Là chân đó nha!’ rồi sau đó cười rộ lên như điên như dại.”

      “Ôi, Gus,” tôi bật thốt, “ là...” Tôi biết phải gì thêm. nhìn tôi, và tôi thấy mình đường đột khi cứ nhìn . Tôi cảm thấy hơi cúi người về phía trước, lảng tránh ánh mắt nhìn của tôi. lấy điếu thuốc ra khỏi miệng, nhìn chằm chằm vào nó và vân vê nó giữa ngón cài và ngón trỏ rồi sau đó lại ngậm lên miệng.

      ra,” cuối cùng cũng lên tiếng, “công bằng mà , cái chân tuyệt vời.”

      “Em rất tiếc,” tôi khẽ khàng. “Em thực rất tiếc.”

      sao đâu, Hazel Grace. Nhưng phải là, lần đầu khi nghĩ mình nhìn thấy bóng ma của Caroline Mathers tại Hội Tương Trợ, hẳn vui hoàn toàn đâu. Đúng là nhìn em chằm chặp, nhưng có tí khao khát nào, mong em hiểu ý .” rút gói thuốc từ trong túi ra và đặt điếu thuốc vào lại trong đó.

      “Em rất tiếc.” Tôi lần nữa.

      cũng thế.”

      “Em bao giờ muốn làm thế với .” Tôi bảo.

      “Ồ, phiền đâu, Hazel Grace. Thậm chí em có làm tan nát con tim đối với , đó còn là đặc ân nữa kìa.”

    3. horcrux

      horcrux New Member

      Bài viết:
      27
      Được thích:
      2
      Chương 12


      Tôi thức dậy lúc bốn giờ mà theo múi giờ Hà Lan trời hửng sáng. Mọi nỗ lực để ngủ trở lại đều thành, vì vậy tôi nằm giường trong khi máy thở BiPAP cứ liên tục hết bơm khí vào lại rút khí thải ra. Tuy tôi thích nghe thanh tựa như chú rồng thở phát ra từ chiếc máy nhưng tôi vẫn ước mình có thể chủ động chọn nhịp thở cho chính mình.

      Tôi lấy cuốn Nỗi đau tột cùng ra đọc lại cho đến khi Mẹ tỉnh dậy lúc sáu giờ sáng. Bà lăn qua phía tôi nằm và rúc đầu vào vai tôi, khiến tôi chợt thấy khó chịu và mơ hồ nhớ cảm giác Augustinô.

      Nhân viên khách sạn phục vụ bữa sáng tận phòng cho chúng tôi, thực đơn hợp ý tôi vói các món thịt được chế biến công phu và hoàn toàn ‘ ’ với công thức quen thuộc của bữa sáng kiểu Mỹ. Chiếc váy tôi định mặc đến gặp Peter Van Houten được ‘đặc cách’ lên trình làng trong bữa ăn tối lãng mạn ở Oranjee. Vì vậy sau khi tôi tắm táp và rũ thẳng tóc, tôi mất đứt ba mươi phút tranh luận với Mẹ về những ưu - khuyết điểm của những bộ trang phục mang theo trước khi quyết định diện giống Anna trong Nỗi đau tột cùng, càng giống càng tốt: đôi giày đế mềm hiệu Chuck Taylor cùng quần jean sậm màu như bạn ấy luôn mặc, và áo T-shirt màu xanh lơ.

      chiếc áo in tác phẩm Siêu thực nổi tiếng của René Magritte, tron đó ông vẽ tẩu thuốc kèm dòng ghi chú bên dưới được viết theo kiểu chữ thảo Ceci n'est pas une pipe. (“Đây phải là tẩu thuốc.”)

      Mẹ : “Mẹ hiểu cái hình áo.”

      “Ông Peter Van Houten hiểu nó, Mẹ tin con . Có đến khoảng bảy ngàn dụ kiểu Magritte trong siêu phẩm Nỗi đau tột cùng mà.”

      “Nhưng nó tẩu thuốc.”

      , phải,” tôi . “Đó là hình vẽ của tẩu thuốc. Mẹ hiểu , mọi hình ảnh đại diện cho vật nào đó vốn đều trừu tượng. Lập luận này thông minh.”

      “Sao mà con lớn nhanh như thổi và hiểu được những điều mà người mẹ cổ lỗ sĩ của con thấy khó hiểu nhỉ?”

      Mẹ thắc mắc. “Với Mẹ vẫn mới như ngày hôm qua, khi còn giải thích cho bé Hazel bảy tuổi tại sao bầu trời lại có màu xanh. Chắc hẳn khi đó con nghĩ Mẹ là thiên tài ha!”

      “Tại sao bầu trời lại màu xanh vậy Mẹ?” Tôi hỏi.

      “Bởi vì...” bà dài giọng. Tôi phá lên cười nắc nẻ.

      Càng gần đến mười giờ, tôi càng hồi hộp lo lắng: hồi hộp vì sắp gặp Augustus; hồi hộp vì sắp gặp Peter Van Houten; lo lắng rằng bộ trang phục tôi mặc bắt mắt; lo lắng rằng chúng tôi tìm đúng nhà ông văn sĩ vì mọi ngôi nhà ở Amsterdam trông khá giống nhau; lo lắng rằng chúng tôi bị lạc và bao giờ tìm được đường về Khách sạn Filosoof; hồi hộp lo lắng, lo lắng hồi hộp. Mẹ cố gắng trò chuyện với tôi nhưng thực tôi để tâm lắng nghe. Tôi vừa định nhờ Mẹ lên lầu xem Augustus thức chưa nghe tiếng gõ cửa phòng.

      Tôi ra mở cửa. nhìn chiếc áo và mỉm cười. “Buồn cười quá!” nhận xét.

      “Đừng ngực em buồn cười,” tôi hờn mắt.

      “Có người lớn ở đây nha,” Mẹ nhắc nhở từ phía sau. Vì tôi làm Augustus đỏ mặt và kéo khỏi trò chòng ghẹo của , nên cuối cùng tôi đủ can đảm liếc nhìn lên .

      Mẹ muốn cùng tụi con à?” Tôi hỏi Mẹ.

      “Mẹ tham quan Bảo tàng Rijksmuseum và Công viên Vondelpark hôm nay,” bà sôi nổi . “Thêm nữa là Mẹ chẳng mê tác phẩm của ông ấy. có ý xúc phạm gì thần tượng của con đâu nhé. Nhớ gửi lời cảm ơn của chúng ta đến ông ấy và Lidewij nhé!”

      “Dạ được,” tôi đáp. Tôi ôm Mẹ, và bà âu yếm hôn phía vành tai tôi.


      Khu nhà trắng nơi Peter Van Houten nằm ở ngay góc ngã tư cùng dãy phố với khách sạn, đường Vondelstraat, đối diện với công viên. Nhà số 158. tay Augustus cẩm hộ giá ô-xy, tay còn lại dắt tôi bước ba bước về phía cánh cửa sơn màu xanh - đen. Tim tôi đập thình thịch. Chỉ còn cách cánh cửa nữa thôi tôi có được câu trả lời mà mình luôn ao ước được biết kể từ lần đầu tiên đọc trang cuối cùng dở dang của tác phẩm này.

      Tôi có thể nghe thấy tiếng bass ầm ầm bên trong, lớn đến nỗi mấy bệ cửa sổ cũng phải rung chuyển. biết Peter Van Houten có con thích nghe nhạc rap hay ?

      Tôi nắm lấy vòng sắc gõ cửa hình đầu sư tử và ngập ngừng đạp vào cửa. Tiếng bass vẫn vọng ra từ bên trong. “Có lẽ ông ấy nghe thấy giữa tiếng nhạc chói tai này đâu,” Augustus . nắm lấy cái vòng sắt và động cửa mạnh hơn.

      Tiếng nhạc tắt hẳn, thay vào đó là tiếng chân lê bước ra cửa. Tiếng mở chốt cửa. Thêm chốt khác. Rồi cánh cửa cọt kẹt hé mở. người đàn ông bụng phệ, tóc lưa thưa, gò má xệ, và bộ râu lún phún chắc tuần chưa cạo bước ra, nheo mắt trước ánh sáng mặt trời. Ông ta mặc bộ đồ ngủ màu lam nhạt, giống như mấy ông già trong khi hai cánh tay khẳng khiu, nên trông ông ta giống như quả bóng với bốn cái que xiên vào nó. “Chú Van Houten phải ạ?” Augustus cất tiếng hỏi, giọng hơi cao hơn bình thường.

      Cánh cửa đóng sầm phát. Phía sau cửa, chất giọng the thé hét lên, ngắt quãng, “LEEE-DUH-VIGH!” (Trước đó, tôi toàn phát tên chị trợ lý của ông ta là lid-uh-widge.)

      Chúng tôi có thể nghe thấy cuộc đối thoại ở bên kia cánh cửa. “Họ đến rồi hả chú Peter?” Giọng người phụ nữ hỏi.

      “Có — Lidewij này, có hai đứa thiếu niên ‘ hồn’ ở trước cửa.”

      hồn?” Chị hỏi lại bằng giọng Hà Lan thánh thót rất dễ thương.

      Van Houten hấp tấp tuôn ra tràng. “Là bóng ma, bóng quỷ, ma-cà-rồng, ma cà tưng, hồn ma bóng quế về, Lidewij. Làm sao mà con người học cao học về văn chương Mỹ như lại có thể sở hữu kỹ năng tiếng tệ lậu như vậy hả?”

      “Chú Peter, mấy em đó phải là ma quỷ gì hết. Đó là Augustus và Hazel, những fan hâm mộ trẻ mà gần đây chú phúc đáp thư từ qua lại.”

      “Chúng — cái gì? Chúng — tôi tưởng chúng nó ở Mỹ chứ!”

      “Vâng, nhưng chú mời hai em ấy đên đây, chú nhớ ?”

      có biết lý do tại sao tôi rời nước Mỹ , Lidewij? Tôi để mà tôi bao giờ gặp bọn người Mỹ nữa.”

      “Nhưng chú là người Mỹ.”

      thể sửa chữa được, có vẻ như thế. Nhưng đối với mấy đứa Mỹ này, phải bảo chúng nó rời khỏi đây ngay, rằng đó là sai lầm khủng khiếp, rằng thằng cha Van Houten chết tiệt chỉ mời lơi thế thôi chứ phải tâm muốn vậy, cho nên cần phải đọc và hiểu lời mới ấy cách tượng trưng.”

      Có vẻ như tôi suýt chút nữa là nôn mửa. Tôi nhìn qua phía Augustus, dán chặt mắt vào cánh cửa, và tôi thấy buông thõng hai vai.

      “Cháu làm vậy đâu, chú Peter,” tiếng chị Lidewij trả lời. “Chú phải gặp họ. chú phải làm như vậy. Chú cần gặp gỡ hai em ấy. Chú cần thấy công việc viết lách của chú có sức ảnh hưởng như thế nào.”

      Lidewij, có phải cố tình qua mặt tôi để sắp xếp chuyện này ?”

      im lặng kéo dài, và cuối cùng cánh cửa lại mở ra lần nữa. Người đàn ông hết nhìn Augustus lại quay đầu nhìn sang tôi, mắt vẫn nheo nheo. “Ai trong hai cậu là Augustus Waters?” ông ta hỏi. Augustus ngập ngừng giơ tay. Van Houten gật đầu và tiếp, “Thế cậu ‘cưa đổ’ nàng đó chưa?”

      Và lần đầu tiên và duy nhất tôi chứng kiến Augustus Waters thực nên lời. “Cháu,” ngắc ngứ, “ừm, cháu, Hazel, ừm. À.”

      “Cậu bé này dường như bị chứng bệnh chậm phát triển nào đó,” Peter Van Houten kết luận với Lidewij.

      Chú Peter,” chị mắng ông.

      “À,” Peter Van Houten vừa vừa chìa tay về phía tôi. “Dù sao cũng rất vui khi được gặp những sinh vật thể tồn tại về mặt bản thể.” Tôi bắt tay ông ta — bàn tay sưng húp, và nhìn ông ta bắt tay với Augustus. Tôi tự hỏi về mặt bản thể nghĩa là gì. Dù sao, tôi cũng thích thuật ngữ này. Augustus và tôi đều thuộc Câu lạc bộ Những sinh vật thể tồn tại gồm chúng tôi và bọn thú mỏ vịt.

      Tất nhiên, tôi hy vọng rằng Peter Van Houten là người ôn hòa mực thước, nhưng quả thế giới này phải là công xưởng sản xuất điều ước. Điều quan trọng là cánh cửa được mở và tôi bước qua ngưỡng cửa đó, vào bên trong để tìm hiểu những chuyện xảy ra sau khi kết thúc truyện Nỗi đau tột cùng. Vậy là đủ. Chúng tôi theo ông ta và chị Lidewij vào trong nhà, băng qua bàn ăn bằng gỗ sồi khổng lồ với chỏng chơ hai chiếc ghế, để vào phòng khách lạnh lẽo đến gợn tóc gáy.

      Nó trông giống bảo tàng, nhưng chẳng có tranh ảnh nghệ thuật nào những bức tường trắng toát. Ngoại trừ chiếc ghế xô-pha và chiếc ghế nệm dài, đều bằng thép bọc da màu đen, căn phòng dường như trống rỗng. Thế rồi tôi để ý thấy phía sau ghế xô-pha có hai túi rác lớn màu đen, căng phồng và buộc xoắn ở miệng túi.

      “Rác à?” Tôi thầm với Augustus, giọng thẽ thọt đủ để ai khác nghe thấy.

      “Thư của fan hâm mộ,” Van Houten trả lời khi ông ra ngồi phịch xuống ghế nệm. “Mười tám năm được ngần đấy. thể mở ra. Đáng sợ lắm. Thư của cậu là những bức thư đầu tiên mà tôi trả lời, và hãy nhìn xem kết quả thế nào đây. Thành tôi thấy hành động của các độc giả hoàn toàn chẳng hay ho tí nào.”

      Điều đó lý giải tại sao ông ra bao giờ trả lời thư của tôi: Ông ra chưa bao giờ đọc qua chúng. Tôi tự hỏi tại sao ông ta giữ tất cả thư từ lại, chưa đến việc cất chúng trong căn phòng khách trang trọng dù trống toác thế này. Van Houten ‘thượng’ hai bàn chân lên chiếc ghế đệm thấp, đôi dép lê bắt chéo nhau. Ông ta ra hiệu về phía chiếc ghế nệm dài. Augustus và tôi ngồi xuống cạnh nhau, nhưng quá sát nhau.

      “Hai em ăn sáng chút gì nhé?” Chị Lidewij mời.

      Tôi định trả lời là chúng tôi ăn sáng rồi Van Houten chen ngang. “Còn quá sớm để nghĩ đến chuyện ăn sáng, Lidewij.”

      “Ồ, hai em đến từ nước Mỹ, chú Peter à. Nên lúc này quá giờ trưa đối với bụng của hai em ấy rồi.”

      “Vậy lúc này cũng quá trễ để ăn sáng rồi,” ông ta tiếp tục. “Tuy nhiên, quá giờ trưa sao chúng ta thưởng thức rượu hoa quả nhỉ. bé có uống rượu Scotch ?” Ông ta hỏi tôi.

      “Cháu á — ừm, , cháu cần uống gì đâu,” tôi đáp.

      “Cậu Augustus Waters?” Van Houten hỏi, hất đầu về phía Gus.

      “Ừm, cháu cũng cần.”

      “Vậy chỉ có mình tôi thôi, Lidewij. Rượu Scotch và nước nhé.” Van Houten chuyển chú ý của mình sang Gus, ông ta hỏi: “Cậu có biết cách chúng tôi pha rượu Scotch với nước trong ngôi nhà này ?”

      , thưa chú,” Gus trả lời.

      “Chúng tôi đổ rượu Scotch vào ly và sau đó suy nghĩ đến nước trong tâm tưởng, thế rồi chúng tôi hòa rượu Scotch thực tế với ý nghĩa trừu tượng về nước.”

      Lidewij : “Có lẽ đầu tiên nên ăn sáng ít, chú Peter.”

      Ông nhìn về phía chúng tôi và thào từng chữ, “ ấy nghĩ rằng tôi nghiện rượu.”

      “Và tôi nghĩ rằng mặt trời lên cao,” Lidewij đáp lời. Tuy nhiên, chị vẫn bước đến quầy rượu trong phòng khách với tay lấy chai Scotch, và rót lấy nửa ly rồi mang nó đến cho ông ta. Peter Van Houten nhấp ngụm, sau đó ngồi thẳng dậy ghế. “Rượu ngon thế này phải uống với tư thế chuẩn nhất,” ông ta .

      Tôi chợt ý thức về tư thế ngồi của mình và hơi thẳng lưng lên chút chiếc ghế nệm dài. Tôi sắp xếp lại dây nhợ của mình. Ba luôn luôn với tôi là chúng ta có thể đánh giá người qua cách họ đối xử với trợ lý và người phục vụ bàn. Theo cách đó Peter Van Houten có thể là kẻ xấu xa đê tiện nhất trần đời. “Vậy là cậu thích cuốn sách của tôi,” ông ta với Augustus sau khi nhấp ngụm rượu nữa.

      “Dạ,” tôi hào hứng đáp thay Augustus. “Dạ vâng, chúng cháu — à, Augustus đây quyết định Điều Ước của mình là được đến đây gặp chú và nghe chú tiết lộ cho tụi cháu biết chuyện gì xảy ra sau khi kết thúc cuốn Nỗi đau tột cùng.”

      Van Houten gì, chỉ cầm lấy ly rượu nốc hơi.

      Sau phút, Augustus lên tiếng, “Cuốn sách của chú có thể xem là đưa chúng cháu đến với nhau.”

      “Nhưng cậu đến với nhau,” ông ta buông lời nhận xét mà chẳng buồn liếc nhìn tôi.

      “Nó đưa chúng cháu gần đến với nhau,” tôi chỉnh lại.

      Giờ ông ta quay sang tôi. “ cố tình ăn mặc giống như con bé phải ?”

      “Bạn Anna ạ?” Tôi hỏi.

      Ông ta chỉ nhìn tôi chằm chặp.

      “Phần nào,” tôi .

      Ông ta lại nốc hơi nữa, sau đó nhăn mặt. “Tôi có nghiện rượu,” ông ta tuyên bố, bất chợt to tiếng cách cần thiết. “Tôi có mối quan hệ thiết với rượu: Tôi có thể kể chuyện cười, cai trị nước và làm bất cứ điều gì tôi muốn làm. Ngoại trừ chuyện cai rượu.” Ông ta liếc nhìn chị Lidewij và hất đầu về phía ly của mình. Chị cầm lấy nó quay về quầy rượu. “Nhớ nghĩ đến nước nhé, Lidewij,” ông ta hướng dẫn.

      “Vâng ạ, biết rồi khổ lắm mãi!” Chị đáp, phát lơ lớ giọng Mỹ.

      Ly rượu thứ hai tới. Van Houten lại duỗi cột sống lần nữa với tất cả lòng tôn sùng rượu. Ông ta tuột đôi dép ra, để lộ hai bàn chân thực xấu xí. Ông ta mỗi lúc phá hỏng hình tượng thiên tài viết lách trong mắt tôi. Nhưng ông ta có câu trả lời cho những câu hỏi của tôi.

      “À, ừm,” tôi , “đầu tiên, chúng cháu muốn cảm ơn chú mời bữa tối đêm qua và —”

      “Chúng ta trả tiền bữa ăn tối qua à?” Van Houten hỏi chị Lidewij.

      “Vâng, tại Oranjee.”

      “À, thế à. Ừ, tin tôi , người cậu phải cảm ơn phải là tôi mà là Lidewij, người đặc biệt có khiếu trong việc xài tiền của tôi.”

      “Đó là tấm lòng của chúng tôi,” chị Lidewij từ tốn.

      “Vâng, dù sao nữa cũng xin cảm ơn,” Augustus chen vào. Tôi có thể nghe giọng thoáng qua chút bực bội.

      “Vậy giờ có tôi đây,” Van Houten sau lúc. “ cậu muốn hỏi gì?”

      “Ừm,” Augustus bật thốt.

      chàng này dường như có ngòi bút sắc sảo hơn là lời ,” Van Houten với chị Lidewij về Augustus. “Có lẽ căn bệnh ung thư tấn công vào não cậu ta.”

      “Chú Peter,” Lidewij thốt lên, giọng thoáng chút kinh hãi.

      Tôi cũng giật bắn mình. Nhưng có dễ chịu là người ti tiện hèn hạ như thế luôn bất lịch trước tất cả mọi người, với chúng tôi cũng chẳng tử tế gì hơn. “ ra chúng cháu có số câu hỏi,” tôi . “Cháu liệt kê chúng trong email gửi chú, biết chú còn nhớ .”

      “Tôi chẳng nhớ gì sất.”

      “Trí nhớ của chú ấy giảm sút,” chị Lidewij giải thích.

      “Phải chi mà trí nhớ của tôi giảm sút,” Van Houten vặc lại.

      “Trở lại câu hỏi của chúng cháu,” tôi nhắc lại.

      bé tự xưng là ‘chúng cháu’ kìa,” Peter bâng quơ. Thêm ngụm rượu. Tôi biết rượu Scotch có vị như thế nào, nhưng nếu nó có vị giống sâm-banh tôi thể hình dung làm thế nào ông ta có thể uống quá nhiều, quá nhanh, và quá sớm vào buổi sáng như vậy. “ bé có từng nghe qua ‘Ngịch lý của Zeno về Achilles và con rùa’ chưa?” Ông ta hỏi tôi.

      “Chúng cháu có số thắc mắc xoay quanh những chuyện xảy ra với các nhân vật sau khi kết thúc truyện, nhất là Anna —”

      bé nhầm ở chỗ tôi cần phải nghe câu hỏi trước rồi mới trả lời. Cháu có biết triết gia Zeno ?” Tôi ngơ ngác lắc đầu. “Trời ơi! Zeno là nhà triết học trước thời Socrates, người phát ra bốn mươi nghịch lý trong thế giới quan của Parmenides đưa ra trước đó — chắc chắn cháu phải biết Parmenides rồi,” ông ta chắc nịch, và tôi gật đầu xác nhận rằng tôi biết Parmenides, mặc dù tôi chẳng có chút ý niệm nào về vị này. “Tạ ơn Chúa,” ông ta tiếp. “Zeno đặc biệt chuyên chỉ ra những điểm chính xác và quá đơn giản hóa vấn đề của Parmenides, việc mấy khó khăn, vì Parmenides luôn sai be bét trong mọi nhận định. Parmenides chỉ hữu dụng trong đúng trường hợp duy nhất khi chúng ta có người quen luôn chọn sai ngựa chiến mỗi dịp chúng ta đưa chàng này đến trường đua và cá cược với . Nhưng phát quan trọng nhất của Zero — khoan , hãy chứng minh cho tôi thấy rằng cậu biết nhạc hip-hop của Thụy Điển nào.”

      Tôi chắc liệu có phải Peter Van Houten đùa . Sau lúc, Augustus trả lời thay tôi. “Chỉ biết chút chút!”

      “Được rồi, nhưng có lẽ có biết đến album trứ danh Fläcken của Afasi och Filthy.”

      “Chúng cháu biết,” tôi đáp thay cho cả hai.

      “Lidewij, bật bản ‘Bomfalleralla’ ngay cho tôi.” Chị Lidewij đến bên máy nghe nhạc MP3, hơi xoay trục đĩa chút rồi nhấn nút phát. bài nhạc rap nổi lên dồn dập từ mọi hướng. Nó nghe như bài rap khá bình thường, ngoại trừ phần ca từ bằng tiếng Thụy Điển.

      Sau khi bài nhạc kết thúc, Peter Van Houten nhìn chúng tôi chờ đợi, cặp mắt ti hí của ông ta mở to hết cỡ. “Hay ?” ông ta hỏi. “Hay ?”

      Tôi , “Cháu xin lỗi chú, nhưng chúng cháu biết tiếng Thụy Điển.”

      “Chậc, tất nhiên là rồi, tôi cũng chẳng biết chữ bẻ đôi. Ai điên mà học tiếng Thụy Điển chứ!? Điều quan trọng phải nằm ở chỗ mấy ca từ vớ vẩn ấy , mà chính là ta cảm thụ lời bài hát ra sao. Chắc hẳn cháu cũng biết rằng chỉ có hai cảm xúc tồn tại thôi, đó là tình sợ hãi. Và đó là cách Afasi och Filthy lèo lái giữa hai cảm xúc này bằng phương tiện mà chúng ta khó tìm thấy trong nhạc hip-hop bên ngoài biên giới Thụy Điển. bé có muốn nghe lại lần nữa ?”

      “Chắc chú đùa với tụi cháu!” Gus .

      “Gì cơ?”

      “Đây là kiểu chuyện của chú ấy à?” hướng mắt nhìn lên Lidewij và hỏi, “Chị?”

      “Chị e là ,” Lidewij trả lời. “Chú ấy phải lúc nào cũng — hôm nay quá bất thường —”

      “Thôi, im ngay, Lidewij. Rudolf Otto từng nếu ta chưa từng gặp điều gì bí , nếu chưa từng trải qua kiện mà ta thể lý giải được, công trình nghiên cứu của ông dành cho ta. Và tôi xin thưa với cậu, hai người bạn trẻ, rằng nếu cậu đây thể nghe thấy phản ứng can đảm của Afasi och Filthy trước nỗi sợ hãi, tác phẩm của tôi dành cho hai người.”

      Tôi xin nhấn mạnh điều này: Đó là bài rap hoàn toàn bình thường, trừ chuyện bằng tiếng Thụy Điển. “Ừm,” tôi . “Vậy về tác phẩm Nỗi đau tột cùng. Mẹ của Anna khi kết thúc truyện, bà —”

      Van Houten ngắt lời tôi, vừa vừa gõ ngón tay vào ly rượu cho đến khi chị Lidewij rót đầy lần nữa. “Vậy Zeno nổi tiếng nhất nhờ nghịch lý con rùa của ông. Hãy tưởng tượng rằng chạy đua cùng chú rùa, trong đó chấp rùa chạy trước mười thước. Trong khoảng thời gian bé chạy hết mười thước đó chú rùa dẫn trước thêm khoảng thước. Và trong thời gian chạy thêm thước chú rùa cũng đồng thời lết thêm được đoạn. Cứ như thế, dù bé có chạy nhanh hơn rùa cũng bao giờ có thể bắt kịp chú; bé chỉ có thể rút ngắn khoảng cách giữa mình và rùa thôi.”

      “Tất nhiên, bé có thể chạy vượt mặt chú rùa mà suy ngẫm về khía cạnh cơ học liên quan, nhưng bài toán làm thế nào để có thể đạt được điều đó hóa ra lại vô cùng phức tạp. Và có ai thực giải quyết được bài toán này cho đến khi Cantor chứng minh cho chúng ta thấy rằng có những tập hợp số vô hạn lớn hơn những tập hợp số vô hạn khác.”

      “Dạ,” tôi .

      “Tôi cho rằng những gì tôi vừa trao đổi trả lời cho câu hỏi của bé,” ông ta tự tin , sau đó sảng khoái nốc ngụm rượu to.

      hẳn thế,” tôi vẫn lì lợm. “Tụi cháu đều tự hỏi là sau đoạn kết của Nỗi đau tột cùng —”

      “Tôi phủ nhận tất cả mọi thứ trong cuốn tiểu thuyết thối tha đó,” Van Houten cắt ngang lời tôi.

      ,” tôi kêu lên.

      “Gì chứ?”

      , cháu chấp nhận,” tôi phản đối. “Cháu hiểu rằng câu chuyện kết thúc lưng chừng vì Anna qua đời hoặc quá ốm yếu thể tiếp tục kể chuyện. Nhưng chú hứa cho chúng cháu biết những gì xảy ra với các nhân vật, và đó là lý do tại sao chúng cháu ở đây. Chúng cháu, cháu cần chú cho cháu biết.”

      Van Houten thở dài. Lại tợp ngụm nữa rồi ông ra mới khề khà, “Được rồi, bé muốn biết chuyện của ai?”

      “Mẹ của Anna, chú Tulip Hà Lan, chú Chuột hamster Sisyphus, tức là — những chuyện sau đó của tất cả mọi người.”


      Van Houten nhắm mắt lại, phồng má thở hắt ra, rồi ngước lên nhìn thanh rầm gỗ đan chéo nhau trần nhà. “Con chuột hamster đó,” ông ta thủng thẳng sau lúc trầm ngâm. “Chú chuột được Christine nhận nuôi,” đó là trong số bạn bè cũ của Anna hồi trước khi bạn ấy phát bệnh. Cũng có lý. Christine và Anna cùng chơi với Sisyphus trong vài đoạn của truyện. “Chú được Christine mang về nuôi và sống thêm vài năm sau đó rồi chết thanh thản trong giấc ngủ thiên thu của loài chuột.”

      Giờ mọi việc tiến triển hơn. “Tuyệt,” tôi reo. “Tuyệt . Được rồi, thế còn Chú Tulip Hà Lan. Ông ấy có phải kẻ bội tín ? Liệu ông ấy và mẹ của Anna có kết hôn với nhau ?”

      Van Houten vẫn nhìn chằm chằm lên các thanh rầm trần. Ông ta lại nhấp ngụm rượu, cái ly lại gần như cạn. “ Lidewij, tôi thể làm việc này. Tôi thể. Tôi thể mà.” Ông ta hướng ánh mắt sang phía tôi. “Chẳng có gì xảy ra với Chú Tulip Hà Lan cả. Ông ấy phải kẻ lừa đảo và cũng là kẻ lừa đảo; ông ấy là Đức Chúa Trời. Ông ấy là hình tượng dụ ràng và hiển nhiên của Chúa, hỏi những gì xảy đến với người này cũng hóc búa tương tự như hỏi chuyện gì xảy ra với cặp mắt quái gở của Bác sĩ T.J.Eckleburg trong Gatsby vậy. Liệu ông ấy và mẹ của Anna có kết hôn hả? Chúng ta về cuốn tiểu thuyết, nhóc ạ, phải là tiểu sử của ai cả.”

      “Phải, nhưng chắc hẳn chú nghĩ đến những chuyện xảy ra với họ, ý cháu là với các nhân vật, tức là tách bạch họ với ý nghĩa dụ, đại khái là vậy.”

      “Đó là những nhân vật hư cấu,” ông ta , lại gõ ly rượu lần nữa. “ có gì xảy ra với họ cả.”

      “Chú chú cho cháu biết,” tôi khăng khăng. Tôi nhắc mình phải cương quyết. Tôi cần phải hướng chú ý của vị tác giả này vào câu hỏi của mình.

      “Có lẽ thế, nhưng tôi bị tượng sai lầm rằng thể du lịch xuyên Đại Tây Dương như vậy. Tôi cố gắng... để an ủi bé, tôi nghĩ vậy, chuyện mà lẽ ra tôi nên dại dột thử. Nhưng thẳng thừng cái ý tưởng rất trẻ con là tác giả của cuốn tiểu thuyết hẳn phải thấu hiểu sâu sắc các nhân vật trong đó... nực cười. Cuốn tiểu thuyết được sáng tác từ các phác thảo nguệch ngoạc trang giấy, bé con ạ. Các nhân vật sống trong truyện tồn tại bên ngoài mấy cái ý tưởng phác thảo đó. Điều gì xảy ra với họ ư? Tất cả bọn họ đều còn tồn tại vào thời điểm cuốn tiểu thuyết kết thúc.”

      ,” tôi và đẩy mình đứng lên. “, cháu hiểu điều đó, nhưng thể tưởng tượng đến tương lai cho họ. Và chú là người có năng lực nhất để tưởng tượng đến tương lai đó. Phải có chuyện gì đó xảy ra với mẹ của Anna. Hoặc có kết hôn hay . Hoặc có chuyến đến Hà Lan với Chú Tulip Hà Lan hay . Hoặc có sinh thêm con nữa hay . Cháu cần biết những gì xảy ra với ấy.”

      Van Houten mím môi. “Tôi rất tiếc rằng tôi thể nuông chiều ý thích bốc đồng trẻ con của bé, và tôi cũng từ chối thương hại bé theo cách mà quen.”

      “Cháu cần chú thương hại gì hết,” tôi đáp.

      “Giống như mọi đứa trẻ bị bệnh,” ông ta thản nhiên bình luận, “ mình muốn được thương hại, nhưng mỗi giây mỗi phút tồn tại của bé đều phụ thuộc vào nó.”

      “Kìa chú Peter,” chị Lidewij gắt lên, nhưng ông ta vẫn tiếp tục khi ngồi ngả ngớn xô-pha, từng lời sang sảng buông ra từ cái miệng say khướt của ông ta. “Trẻ em mắc bệnh ràng trở thành tù nhân bị giam giữ: Định mệnh buộc cậu sống lay lắt qua ngày chẳng khác gì đứa trẻ từ khi được chuẩn bệnh, đứa trẻ tin rằng có cuộc sống tồn tại sau khi cuốn tiểu thuyết kết thúc. Và chúng tôi, những người lớn, chúng tôi thương hại trước điều này, nên chúng tôi chi trả phí điều trị cho cậu, cho máy tạo ô-xy của bé. Chúng tôi cung cấp cho bé thức ăn và nước uống dù sống đủ lâu —”

      “CHÚ PETER!” chị Lidewij gắt um.

      bé là tác dụng phụ,” Van Houten vẫn ngoan cố, “của quá trình tiến hóa nghèo quan tâm đến cuộc sống của các cá nhân. bé là thí nghiệm thất bại của quá trình đột biến.”

      “CHÁU XIN NGHỈ VIỆC!” chị Lidewij hét lên, nước mắt lưng tròng. Nhưng tôi tức giận. Người ngồi đối diện tìm cách gây tổn thương nhất để biểu đạt , nhưng tất nhiên là tôi biết này. Tôi có nhiều năm nằm chú mục lên trần nhà từ phòng ngủ riêng của mình đến Phòng chăm sóc đặc biệt ICU, và vì vậy từ lâu tôi tìm thấy những cách gây tổn thương nhất để hình dung về căn bệnh của mình. Tôi bước về phía ông ta. “Nghe này, ông chú cốt đột,” tôi , “ông cần cho tôi biết bất cứ điều gì về căn bệnh mà tôi biết tỏng tòng tong. Tôi cần và chỉ điều từ ông trước khi tôi bước ra khỏi cuộc đời ông mãi mãi: ĐIỀU GÌ XẢY ĐẾN VỚI MẸ CỦA ANNA?”

      Ông nhà văn mơ hồ ngẩng chiếc cằm nọng mỡ của mình về phía tôi và nhún vai. “Tôi thể cho bé biết những gì xảy ra với bà ấy cũng như tôi thể cho cho bé biết những gì xảy đến với Người kể chuyện của Proust, hay em quý của Holden Caulfield hay Huckleberry Finn sau khi cậu thình lình bỏ đến địa phận của những người da đỏ.”

      “NHẢM NHÍ! nhảm nhí. Chỉ cần cho tôi biết! Bịa đại chuyện gì đó !”

      , và tôi cảm ơn nếu tục trong nhà tôi. Điều đó giúp bé trở thành quý thanh lịch được đâu.”

      ra tôi chẳng thấy tức giận gì, tôi chỉ muốn tập trung lấy bằng được thông tin mà tôi được hứa. Trong cơn bộc phát, tôi đưa tay xuống và hất thẳng vào bàn tay múp míp cầm ly Scotch. Phần rượu Scotch còn lại bắn tung tóe khắp mặt Van Houten, chiếc ly nảy ra khỏi tay ông ta, xoay vòng điệu nghệ trong trung rồi đáp xuống sàn gỗ cứng lâu năm, vỡ tan tành thành trăm mảnh.

      “Lidewij,” Van Houten bình thản , “Tôi muốn uống ly martini, làm phiền . Nhớ thêm xíu rượu vang trắng vermouth nhé.”

      “Cháu thôi việc,” Lidewij sau lúc.

      đừng cư xử buồn cười thế.”

      Tôi biết phải làm gì tiếp theo. Cư xử đàng hoàng hiệu quả. Cư xử thô lỗ cũng chẳng nên cơm cháo gì. Tôi cần câu trả lời. Tôi cướp Điều Ước của Augustus, bay chặng đường dài để đến được đây. Tôi cần biết câu trả lời.

      “Bé con bao giờ dừng lại và tự hỏi,” ông ta , giọng càng lúc càng nhừa nhựa, “tại sao bé con lại quá để tâm đến mấy câu hỏi ngớ ngẩn của mình chưa?”

      “ÔNG HỨA!” Tôi hét lên, nghe tiếng khóc than rền rĩ bất lực của Issac vang vọng từ Buổi Tối Đập Phá Cúp. Van Houten buồn đáp.

      Khi tôi còn đứng như trời trồng, chờ ông ta mở miệng gì đó tôi chợt cảm thấy bàn tay của Augustus nắm lấy tay mình. kéo tôi ra phía cửa, và tôi thẫn thờ theo . Bên tai tôi còn nghe tiếng Van Houten lên lớp Lidewij về vô ơn của thanh thiếu niên ngày nay và rệu rã của phép tắc lịch , và chị Lidewij, có phần nào kích động, quát vào mặt ông ta tràng tiếng Hà Lan nghe như súng liên thanh.

      cậu hãy rộng lòng tha thứ cho cựu trợ lý của tôi,” ông ta . “Hà Lan là ngôn ngữ nghe cứ như bệnh nhân đau họng hát.”

      Augustus kéo tôi ra cánh cửa, thoát khỏi căn phòng ngột ngạt đó, bước ra ngoài trời vào cuối buổi sáng mùa xuân khi những bông hoa giấy hạt du vẫn lả tả bay trong gió.


      Đối với tôi, có khái niệm tẩu thoát. Nhưng chúng tôi vội vã leo xuống cầu thang, Augustus cầm hộ giá thép cho tôi, sau đó bước thấp bước cao ngược về Khách sạn Filosoof vỉa hè mấp mô những viên gạch hình chữ nhật được lát đan xen nhau. Lần đầu tiên kể từ sau câu chuyện về bộ đánh đu, tôi bắt đầu thút thít khóc.

      “Này,” Gus , chạm vào eo tôi. “Này. sao đâu.” Tôi gật đầu và quệt mu bàn tay lau nước mắt. “Ông già xấu xa!” Tôi gật đầu lần nữa. “ viết cho em đoạn kết,” . Lời càng làm tôi khóc to hơn. “ viết mà,” dỗ dành. “ viết. Viết hay hơn bất kỳ ý tưởng nhảm nhí nào mà ông già say rượu đó có thể viết ra. Não của ông toàn là pho mát Thụy Sĩ. Ổng thậm chí còn nhớ từng viết cuốn sách này. có thể viết hay gấp mười lần câu chuyện của ổng. có đổ máu, lòng can đảm và hy sinh. giao thao hoàn hảo giữa Nỗi đau tột cùngCái giá của Bình minh. Chắc chắn em thích nó.” Tôi liên tục gật đầu, gượng gạo cười trấn an . ôm choàng lấy tôi, đôi cánh tay mạnh mẽ kéo tôi ấp vào lồng ngực săn chắc của , nước mắt tôi loang ra chiếc áo thun pô-lô của . lúc sau tôi dần trấn tĩnh và có thể chuyện.

      “Em phí phạm Điều Ước của vào ông già cốt đột đó,” tôi nơi ngực .

      “Hazel Grace. , tặng em Điều Ước duy nhất của . Nhưng em tiêu phí nó vào ổng. Em sử dụng nó cho cả hai chúng ta.”

      Ở phía đằng sau, tôi nghe có tiếng gót giày gõ lộp cộp mặt đường. Tôi quay lại. Đó là chị Lidewij, nước kẻ mắt của chị theo nước mắt lem dài má, mặt vẫn chưa tan vẻ kinh hoàng, hấp tấp đuổi theo chúng tôi. “Có lẽ chúng ta nên đến tham quan Nhà lưu niệm Anne Frank,” chị Lidewij hổn hển .

      “Em bất cứ nơi đâu với ông quái vật ấy,” Augustus .

      “Chú ấy được mời,” chị Lidewij trấn an.

      Augustus vẫn ôm chặt tôi, đầy vẻ bảo vệ, tay ôm lấy khuôn mặt tôi. “Em nghĩ rằng —” vừa định tiếp tôi cắt ngang lời .

      “Chúng ta nên .” Tôi vẫn muốn có câu trả lời từ Van Houten. Nhưng đó phải là tất cả những gì tôi muốn. Tôi chỉ còn vẻn vẹn hai ngày ở Amsterdam với Augustus Waters. Tôi để cho ông già chán đời phá hỏng quãng thời gian ngắn ngủi này.


      Chị Lidewij lái chiếc Fiat cà tàng màu xám với động cơ phát ra thanh nghe giống bốn tuổi bị kích động. Vừa lái xe luồn lách giữa phố phường Amsterdam, chị vừa xin lỗi rối rít: “Chị thành xin lỗi. có lời nào biện minh được. Chú ấy bị bệnh rất nặng,” chị . “Nên chị cứ nghĩ rằng gặp hai em giúp chú ấy, cho chú thấy tác phẩm của chú lay động độc giả và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ như thế nào, nhưng... Chị vô cùng xin lỗi hai em, mọi chuyện diễn biến tệ hại và đáng xấu hổ.” Cả Augustus và tôi đều gì. Tôi ngồi ở ghế sau, phía sau lưng Gus. Tôi len tay vào khoảng trống giữa thành xe và thành ghế của , cố tìm tay nhưng tôi thể tìm thấy. Chị Lidewij tiếp tục, “Chị tiếp tục công việc này vì chị tin rằng chú ấy là thiên tài và vì thù lao cũng rất hậu hĩnh. Nhưng chú ấy biến thành quái vât.”

      “Có lẽ chú ấy thu được bộn tiền từ cuốn sách đó,” tôi sau hồi im lặng.

      “Ồ, , chú ấy thuộc dòng dõi Van Houten,” chị đính chính. “Vào thế kỷ mười bảy, dòng họ của chú phát ra cách hòa tan ca cao với nước. vài thành viên của nhà Van Houten chuyển đến Hoa Kỳ từ lâu, trong đó có cả chú Peter. Nhưng chú ấy lại quay về Hà Lan sau khi phát hành cuốn tiểu thuyết đó. Chú ấy là nỗi xấu hổ của gia đình danh gia vọng tộc.”

      Tiếng động cơ rít lên. Chị Lidewij sang số và xe chúng tôi chạy lên cây cầu bắc ngang kênh. “Đó là do hoàn cảnh đưa đẩy thôi,” chị . “Hoàn cảnh khiến chú ấy trở nên khắc nghiệt. Bản chất chú phải là người xấu xa. Nhưng hôm nay, chị ngờ rằng — khi chú thốt lên những điều khủng khiếp ấy, chị thể tin vào tai mình nữa. Chị thành xin lỗi Vô vàn xin lỗi.”


      Chúng tôi phải đậu xe cách Nhà lưu niệm Anne Frank dãy phố. Và trong khi chị Lidewij đứng xếp hàng chờ mua vé tham quan, tôi ngồi tựa lưng vào thân cây , mắt dõi theo những nhà thuyền neo dọc bờ kênh Prinsengracht. Augustus đứng ngay cạnh bên, tay nghịch giá đỡ ô-xy của tôi và đăm đăm nhìn mấy cái bánh xe quay mòng trong quỹ đạo đơn điệu. Tôi muốn ngồi xuống cạnh mình, nhưng ý thức được đó là cầu khó đối với , và thậm chí khi đứng lên còn khó khăn hơn gấp bội. “Em ổn chưa vậy?” cúi xuống hỏi. Tôi nhún vai và đưa tay vịn vào chân . Đó là bên phía chân giả nhưng tôi vẫn bám chặt. nhìn xuống tôi.

      “Em muốn...” tôi mấp máy .

      biết,” cắt lời. “ biết mà. ràng thế giới này phải là công xưởng sản xuất điều ước.” Lời khiến tôi mỉm cười.

      Chị Lidewij quay lại với những chiếc vé trong tay, nhưng đôi môi mỏng của chị mím lại đầy lo lắng. “Bên trong có thang máy,” chị . “Chị xin lỗi.”

      sao đâu,” tôi trấn an chị.

      , bên trong đó có rất nhiều bậc thang,” chị giải thích. “Toàn là thang thẳng dốc.”

      sao đâu mà chị,” tôi lặp lại. Trước khi Augustus định gì, tôi chặn lời . “ sao đâu. Em có thể leo được.”

      Chúng tôi bắt đầu từ căn phòng trình chiếu đoạn phim về cộng đồng người Do Thái ở Hà Lan, cuộc xâm lược của Đức Quốc xã và gia đình Frank. Sau đó, chúng tôi leo thang lên lầu, bước vào căn nhà bên bờ kênh, nơi kinh doanh của ông Otto Frank ngày xưa. Công đoạn leo thang hơi rị mọ, đối với cả tôi và Augustus, nhưng tôi cảm thấy mình mạnh mẽ. Chẳng mấy chốc tôi nhìn thấy cái tủ sách nổi tiếng, nơi từng giấu Anne Frank, gia đình em, và bốn người khác. Tủ sách để mở nửa, và đằng sau đó là cầu thang thậm chí dốc hơn và chỉ vừa đủ cho người . Có rất nhiều du khách xung quanh chúng tôi, và tôi muốn làm kẹt dòng người tham quan. Nhưng chị Lidewij lên tiếng: “Xin quý vị kiên nhẫn và vui lòng nhường đường cho bé,” và tôi bắt đầu leo từng nấc thang, chị Lidewij cầm hộ giá ô-xy phía sau tôi, sau nốt là Gus.

      Có cả thảy mười bốn bậc thang. Tôi cứ nghĩ về dòng người phía sau tôi — đa phần họ là người lớn đến từ nhiều quốc gia với nhiều ngôn ngữ khác nhau — và tự cảm thấy xấu hổ, kiểu như mình giống như bóng ma, cảm giác ấy vừa dễ chịu vừa ám ảnh, nhưng cuối cùng tôi làm được. Tôi bước lên căn phòng trống trải cách kỳ quái, tựa lưng vào tường, và não của tôi với hai lá phổi rằng sao, sao hết, bình tĩnh nào, ổn rồi trong khi phổi của tôi với não rằng ôi Chúa ơi, tụi mình mệt đứt hơi luôn. Tôi thậm chí nhìn thấy Augustus lên tới nơi, mãi đến khi bước đến và đưa tay lau trán như úi chà và khen tôi, “Em là nhà vô địch.”

      Sau vài phút đứng dựa tường nghỉ mệt, tôi tham quan phòng kết tiếp, nơi Anne sống chung với nha sĩ Fritz Pfeffer. Căn phòng xíu, trống huơ trông hoác, chẳng có nội thất gì. ai biết phòng này từng có người sinh sống nếu như thấy mấy bức hình Anne cắt ra từ các báo, tạp chí và dán lên tường, chúng vẫn ở đó theo năm tháng.

      Thêm cầu thang dẫn lên căn phòng nơi gia đình Van Pels từng sống. Lần này lại dốc hơn so với lần trước và những mười tám bậc, cơ bản là dãy thang rất hoành tráng. Tôi đứng ở đầu cầu thang, nhìn lên tần ngần và thầm nghĩ mình thể leo nổi, nhưng đồng thời tôi cũng biết lối duy nhất là phải leo lên.

      “Chúng ta quay lại nhé!” Gus sau lưng tôi.

      “Em sao đâu,” tôi khẽ khàng đáp. ngu ngốc, nhưng tôi cứ nghĩ mình nợ em — em Anne Franks ấy — bởi vì em qua đời trong khi tôi còn sống sờ sờ, vì em sống cuộc đời thầm lặng, tách biệt với thế giới bên ngoài và làm toàn những điều đúng đắn mà vẫn chết, thế nên tôi cần phải hết những bậc thang này và tìm hiểu về phần còn lại của thế giới mà em từng sống trong nhiều năm trước khi bọn Gestapo đến.

      Tôi bắt đầu leo lên cầu thang, dò dẫm từng bước như đứa trẻ, lúc đầu chầm chậm để có thể giữ được nhịp thở, nhưng sau đó tăng tốc bởi tôi biết mình thể thở nổi và muốn đến được đích càng sớm càng tốt trước khi cạn kiệt sức lực. Cứ mỗi khi tôi nhấc chân lên là có màn đen che ngang tầm mắt, mười tám bậc, dốc ơi là dốc. Khi bước hết bậc thang cuối cùng, tôi thấy hoa cả mắt và buồn nôn, các cơ bắp ở cả tay và chân đều kêu gào vì thiếu ô-xy. Tôi ngồi thụp xuống, tựa lưng vào tường, há miệng thở. Có cái hộp rỗng bằng thủy tinh được bắt vít dính vào tường ở phía đầu và tôi ngẩng nhìn nó chằm chặp, tập trung hướng lên trần nhà để bị ngất .

      Chị Lidewij cúi nhìn xuống tôi, động viên: “Em lên đến đầu cầu thang, chúc mừng em!” và tôi gật đầu. Tôi mơ hồ nhận thức được rằng tất cả khách tham quan ở xung quanh liếc nhìn tôi đầy lo lắng; rằng chị Lidewij vừa thào ngôn ngữ khác rồi thêm ngôn ngữ khác nữa lan truyền trong nhóm khách; rằng Augustus đứng bên cạnh tôi, tay đặt đầu và âu yếm vuốt tóc tôi.

      Sau lúc lâu, chị Lidewij và Augustus kéo tôi đứng dậy. Lúc này tôi mới thấy những gì được bảo vệ phía sau hộp kính: chi chít dấu bút chì tấm giấy dán tường đo chiều cao của tất cả trẻ em trong khu nhà phụ suốt quãng thời gian chúng sống ở đó, từng centimet cho đến khi chúng cao thêm được nữa.

      Từ đó, chúng tôi rời khỏi gian sinh hoạt của gia đinh Frank, nhưng vẫn còn trong bảo tàng: hành lang dài và hẹp trưng rất nhiều hình ảnh của mỗi người trong số tám nhân vật sinh sống trong khu nhà phụ và mô tả chi tiết họ chết như thế nào, ở đâu và khi nào.

      “Thành viên duy nhất của cả gia đình còn sống sót sau chiến tranh,” chị Lidewij với chúng tôi, ý chỉ ông Otto - cha của em Anne. Giọng chị khẽ đến nỗi cứ như ba chúng tôi ở trong khu nhà thờ.

      “Nhưng ra ông ấy sống sót sau chiến tranh,” Augustus chỉnh lại. “Ông ấy sống sót sau cuộc diệt chủng.”

      “Đúng thế!” chị Lidewij đáp. “Chị cũng biết làm sao ta có thể tiếp tục sống mà còn người thân nào trong gia đình bên cạnh. Chị thể tưởng tượng được.” Khi tôi đọc về tiểu sử của bảy người khuất, tôi thấy Otto Frank còn là người cha nữa khi ông sống trơ trọi cùng cuốn nhật ký thay vì với vợ và hai con thân . Ở cuối hành lang có cuốn sách rất to, dày hơn cả từ điển, trong đó nêu tên của 103.000 người đến từ Hà Lan bị tàn sát trong cuộc diệt chủng Holocaust. (Theo chú thích tường chỉ có 5.000 người Do Thái ở Hà Lan bị trục xuất may mắn sống sót. Vỏn vẹn 5.000 ông Otto Frank.) Tôi giở sang trang có tên của Anne Frank, nhưng chuyện khiến tôi băn khoăn là ngay bên dưới tên em ấy còn những bốn tên Aron Frank. Bốn người. Bốn người tên Aron Frank mà có bảo tàng lưu niệm, có dấu tích lịch sử, có bất cứ ai tiếc thương họ. Tôi nhủ thầm nhớ và cầu nguyện cho bốn người Aron Frank này trong lúc mình còn sống. (Có thể số người cần phải tin vào Đức Chúa đúng đắn và toàn năng để cầu nguyện, nhưng tôi .)

      Khi chúng tôi đến cuối gian phòng, Gus dừng lại và hỏi, “Em sao đó chứ?” Tôi gật đầu.

      đưa tay chỉ bức ảnh của Anne. “Đáng thương nhất là bé suýt được sống, em biết . Em ấy qua đời chỉ vài tuần trước ngày giải phóng.”

      Chị Lidewij đến xem đoạn phim, và tôi nắm tay của Augustus khi chúng tôi bước vào căn phòng tiếp theo. Đó là căn phòng hình chữ A trưng bày số bức thư ông Otto Frank gửi khắp nơi trong suốt nhưng tháng ròng do tìm tung tích con. bức tường ở giữa phòng chiếu đoạn phim bằng tiếng của Otto Frank.

      biết còn tên Đức quốc xã nào sót lại để săn lùng và đưa ra công lý ?” Augustus hỏi trong khi chúng tôi dán mắt vào tủ kính đọc các bức thư khẩn thiết của Otto cùng trích dẫn thư trả lời rằng , có ai nhìn thấy hai người con của ông sau khi giải phóng.

      “Em nghĩ rằng tất cả bọn họ đều chết cả rồi. Nhưng hẳn chỉ có bọn Đức Quốc xã mới độc quyền về chuyện gây ra tội ác.”

      “Đúng thế!” hùng hồn . “Đó là những gì chúng tôi nên làm, Hazel Grace. Chúng ta nên lập thành bộ đội cảnh vệ tàn tật với nhiệm vụ bảo vệ thế giới, sửa chữa những việc làm sai trái, bảo vệ kẻ yếu và những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng.”

      Mặc dù đó là ước mơ của chứ phải của tôi, tôi cũng bị cuốn theo. Rốt cuộc truyền cảm hứng cho tôi. “Lòng can đảm là vũ khí bí mật của chúng ta,” tôi hùa theo.

      “Rồi đây những câu chuyện về kỳ tích của hai chúng ta trường tồn vĩnh viễn chừng nào nhân loại còn sống để kể lại,” tiếp lời.

      “Và thậm chí cả sau đó, khi bọn rô-bốt hồi tưởng về ngớ ngẩn của loài người, như đức hy sinh và lòng trắc , chắc chúng nhớ đến hai đứa mình.”

      “Chúng cười rất rô-bốt về điên rồ can đảm của chúng ta,” . “Nhưng sâu thẳm trong trái tim rô-bốt bằng kim loại của chúng, chúng khao khát được sống và chết như chúng ta: thực sứ mệnh của hùng.”

      “Augustus Waters,” tôi gọi tên , nhìn vào mắt và nghĩ rằng mình thể hôn ai ngay trong Nhà lưu niệm Anne Frank, rồi sau đó lại nghĩ Anne Frank chắc từng hôn ai đó trong chính Ngôi nhà Anne Frank này, và có thể em ấy nhiệt liệt tán thành việc biến ngôi nhà của mình thành nơi hàn gắn những trái tim trẻ trung và bị tổn thương thể nào liền sẹo, để họ đắm chìm trong tình đôi lứa.

      “Thành ,” Otto Frank phát biểu trong đoạn phim bằng giọng tiếng lơ lớ, “tôi rất ngạc nhiên trước những suy nghĩ sâu sắc của cháu Anne.”

      Và sau đó chúng tôi hôn nhau. Tôi buông giá ô-xy và choàng tay lên cổ . ôm eo kéo tôi lên, tôi nhón gót chờ đợi. Và khi đôi môi hé mở của chạm vào môi tôi, tôi bắt đầu cảm thấy khó thở theo cách mới mẻ hấp dẫn. gian xung quanh chúng tôi như tan biến. Và trong khoảnh khắc lạ kỳ, tôi thực thích cơ thể của mình; cái thân xác hao mòn vì ung thư mà tôi lê la khắp nơi trong nhiều năm qua bỗng nhiên có giá trị hẳn, chẳng bõ công tôi đấu tranh, tôi đeo nào là ống dẫn ở ngực rồi ống thông nội tĩnh mạch PICC, và cả phản bội liền tù tì của mấy khối u đối với cơ thể tôi.

      “Đó như là cháu Anne khác chứ phải con tôi. Con bé chưa bao giờ thể cảm xúc nội tâm như vậy,” giọng ông Otto Frank tiếp tục.

      Nụ hôn kéo dài mãi mãi trong lúc ông Otto Frank vẫn đều đều phía sau tôi. “Và tôi rút ra kết luận là,” ông , “dù tôi rất gần gũi với cháu Anne nhưng đa phần các bậc cha mẹ thực hiểu con cái của mình.”

      Tôi nhận ra mắt mình nhắm nghiền, nên vội mở choàng mắt. Augugtus nhìn tôi đắm đuối, đôi mắt xanh của chưa bao giờ gần với tôi đến như vậy. Và hỡi ôi sau lưng đám đông vây thành ba vòng xung quanh chúng tôi. Chắc họ tức giận, tôi thầm nghĩ. Bị sốc, vì mấy đứa thiếu niên nhãi nhép biết xấu hổ này dám hôn hít nhau trong lúc người ta phát đoạn phim ghi giọng vỡ òa của người cha bị mất con.

      Tôi buông Augustus ra và đặt vội nụ hôn lên trán tôi khi tôi sượng trân cúi nhìn mũi giày Chuck Taylor của mình. Chợt mọi người đồng loạt vỗ tay. Tất cả khách tham quan, tất cả đều là người lớn, nhất loạt vô tay hưởng ứng. Thậm chí người còn hét lên “Hoan hô!” với chất giọng Châu Âu đặc sệt. Augustus mỉm cười, cúi đầu chào. Cũng cười, tôi khẽ nhún gối chào và nhận được thêm tràng pháo tay nhiệt liệt.

      Chúng tôi cùng trở xuống tầng dưới, đầu tiên là nhường cho tất cả mọi người xuống trước, và ngay hai đứa tôi đến được quầy cà phê (nơi mà may mắn thay có thang máy đưa chúng tôi thẳng xuống tầng trệt và cửa hàng bán đồ lưu niệm), chúng tôi kịp đọc vài trang nhật ký của Anne cũng như quyển sổ tay bé ghi lại các câu danh ngôn hay hay mà chưa được phát hành. Quyển sổ tay vô tình mở đúng trang trích dẫn mẫy câu thơ bất hủ của đại thi hào Shakespeare. Em viết, Nào có ai đời đủ mạnh mẽ để vượt qua cám dỗ?


      Chị Lidewij đưa chúng tôi về lại Khách sạn Filosoof. Ngoài trời mưa lất phất nên lúc Augustus và tôi đứng vỉa hè lát gạch, từng hạt mưa bụi từ từ thấm ướt cả hai đứa tôi.

      Augustus: “Có lẽ em cần nghỉ ngơi lát.”

      Tôi: “Em sao mà.”

      Augustus: “Được rồi!” (Ngừng lại chốc.) “Thế em nghĩ gì vậy?”

      Tôi: “ đó!”

      Augustus: “ sao?”

      Tôi: “Tôi biết tôi thích gì hơn, / Vẻ đẹp của những đoạn luyến láy / Hay vẻ đẹp của bóng gió ca từ, / Con chim đen khi say sưa hót / Hay ngay khi nó dứt lời.”

      Augustus: “Lạy Chúa, em quyến rũ.”

      Tôi: “Chúng ta có thể lên phòng .”

      Augustus: “ từng nghe những ý tưởng tệ hơn.”


      Chúng tôi cùng chen vào cái buông thang máy xíu. Tứ phía, bao gồm cả sản nhà, đều được lắp kính. Chúng tôi hì hụi kéo cửa, cứ như tự nhốt mình trong đó và cái thang máy cũ kỹ kêu cọt kẹt, chậm rãi đưa chúng tôi lên tầng hai. Tôi mệt lả người, mồ hôi mồ kê nhễ nhãi, cứ lo ngay ngáy mình trông tả tơi và hôi như cú. Nhưng ngay cả khi như vậy, tôi vẫn hôn trong thang máy. Chợt kéo tôi ra, chỉ vào gương và , “Nhìn kìa, có vô số nàng Hazel.”

      “Có những tập hợp số vô hạn lớn hơn những tập hợp vô hạn khác,” tôi lè nhè, bắt chước giọng điệu Van Houten.

      kẻ hợm hĩnh!” Augustus bảo, cũng vừa lúc thang máy lên đến tầng hai. Buồng thang máy lảo đảo dừng lạ và đẩy cánh cửa lắp kính ra. Khi chỉ mới mở được nửa, nhăn mặt đau đớn và buông tay khỏi cửa trong tích tắc.

      có sao ?” Tôi hỏi.

      liền trấn an tôi, “À, ừ, tại cánh cửa nặng quá.” đẩy thêm lần nữa và cửa mở hẳn ra. để tôi bước ra trước, lẽ dĩ nhiên, nhưng tôi biết hướng nào xuống hành lang. Nên tôi chờ ở bên ngoài thang máy còn đứng tần ngần đó, gương mặt vẫn nhăn nhó vì đau đớn. Tôi hỏi lại lần nữa, “Ổn vậy ?”

      “Chỉ hơi đuối chút thôi, Hazel Grace. Mọi chuyện vẫn ổn.”

      Chúng tôi cứ đứng đó trước khi dãy hàng lang, và dẫn đường đến phòng hay gì hết, còn tôi biết phòng ở đâu. Và khi tình huống cứ bế tắc như thế, tôi càng bị thuyết phục rằng cố tìm cách tế nhị để làm ‘chuyện ấy’ với tôi, rằng tôi bao giờ nên gợi ý chuyện đó trước bởi hành động đó giống con tí nào. Và điều đó khiến Augustus Waters coi thường tôi nên cứ đứng im như phỗng, nhìn tôi chớp mắt và tìm đường giải thoát chính mình khỏi tình huống khó xử này cách lịch sụ. Cuối cùng, sau lúc lâu ơi là lâu, lên tiếng trước, “Nó ở phía đầu gối, chỉ còn da thôi và hơi thuôn nhọn. Có vết sẹo xấu xí nhưng nó chỉ trông giống như —”

      “Cái gì vậy?” Tôi ngơ ngác hỏi.

      “Chân ,” đáp. “Để em chuẩn bị sẵn sàng tinh thần phòng trường hợp, ý là, lỡ như em nhìn thấy nó hoặc cái gì —”

      “Ồ, thôi nào, phải vượt lên chính mình chứ,” tôi và tiến hai bước về phía . Tôi ôm hôn , cuồng nhiệt, ép mạnh vào tường, và cứ thế tiếp tục trong khi mò mẫn tìm chìa khóa phòng.


      Chúng tôi ngã ra giường. tự do của tôi bị giới hạn vì mớ thiết bị dẫn ô-xy. Nhưng ngay cả khi như vậy tôi vẫn ráng leo lên người , cởi áo ra và nếm vị mồ hôi mằn mặn ngay dưới xương đòn của trong khi thào thú nhận, “Em , Augustus Waters!” Cơ thể giãn ra bên dưới tôi khi nghe thấy điều đó. lần tay xuống và cố gắng kéo áo tôi ra, nhưng nó bị mắc vào dây dẫn. Tôi cười ngặt nghẽo.



      “Sao em có thể xoay xở như thế này mỗi ngày vậy?” hỏi khi tôi gỡ chiếc áo ra khỏi mớ dây nhợ quanh người. Ngốc , tôi chợt nhận ra chiếc quần chíp màu hồng của mình chẳng ăn nhập gì với cái áo ngực màu tím cả, như thể con trai chú ý mấy chuyện như vậy. Tôi thu mình dưới tấm chăn, hất chiếc quần jean lẫn vớ ra khỏi chăn rồi nằm theo dõi chiếc chăn bông phập phồng khi bên dưới nó, Augustus cởi quần jean và tháo cái chân giả của .

      Chúng tôi nằm sát bên nhau, chăn đắp che kín người. Sau lúc, tôi đánh bạo đặt tay lên đùi và lần mò sờ xuống bên dưới chỗ tháo khớp, nơi dày lên vì sẹo mổ. Tôi ôm lấy đầu chân cụt của . Trong thoáng chốc hơi nao núng. “ đau hả?” Tôi hỏi.

      ,” đáp.

      lăn người qua hôn tôi. “ phong độ,” tôi thầm, tay vẫn ôm lấy chân .

      bắt đầu nghĩ rằng em mắc chứng sùng bái người bị cụt đó,” đáp trong khi vẫn hôn tôi. Tôi cười khúc khích.

      “Em mắc chứng sùng bái Augustus Waters thái quá,” tôi giải thích.


      Toàn bộ chuyện ấy trái ngược hoàn toàn với những gì tôi hình dung: chậm rãi, kiên nhẫn, ồn ào, đau đớn tột cùng cũng chẳng ngây ngất tột đỉnh, Chuyện dùng bao cao su gây nhiều phiền toái khiến tôi cái nhìn ràng. làm gãy ván giường. kêu rên sung sướng. Thành , đó có thể là quãng thời gian lâu nhất chúng tôi ở bên nhau mà gì hết.

      Chỉ có điều theo đúng hướng tôi tưởng tượng: Sau đó, khi tôi ấp mặt vào ngực , lắng nghe nhịp đập của tim Augustus chợt , “Hazel Grace, thể mở mắt nổi.”

      “Lạm dụng từ ‘ ’ quá!” Tôi đáp.

      ,” . “ mà. Đuối !”

      quay mặt , tai tôi ép vào ngực , nghe hai lá phổi nhịp nhàng chìm vào giấc ngủ. Sau lúc, tôi bật dậy, mặc quần áo vào, tìm giấy của Khách sạn Filosoof và viết cho bức thư tình:


      Augustus dấu,
      [​IMG]

      Thương,

      Hazel Grace

    4. horcrux

      horcrux New Member

      Bài viết:
      27
      Được thích:
      2
      Chương 13


      Sáng hôm sau, ngày cuối cùng của chúng tôi ở Amsterdam, Mẹ cùng Augustus và tôi bộ đến Công viên Vondelpark chơi. Ở đó, chúng tôi tìm thấy quán cà phê mình dưới bảo tàng điện ảnh quốc gia Hà Lan. Nhâm nhi tách latte - mà theo lời người phục vụ giải thích người Hà Lan gọi là “cà phê đúng điệu” bởi vì nó có nhiều sữa hơn cà phê - chúng tôi ngồi dưới tán cây dẻ cổ thụ và thuật lại cho Mẹ nghe cuộc gặp gỡ giữa chúng tôi với Peter Van Houten vĩ đại. Chúng tôi kể như câu chuyện hài. đời này tôi tin là chúng ta có quyền lựa chọn xem nên kể chuyện buồn như thế nào, và chúng tôi quyết định hài hước hóa câu chuyện: Augustus, ngồi thụp xuống ghế, giả bộ làm ngài Van Houten kín miệng, chuyên kháy người khác và mấy khi nhấc mình ra khỏi ghế; còn tôi vẫn đứng và đóng vai chính mình, cứ hết thẹn đỏ mặt lại sừng sộ hét lên, “Này ông già xấu xí, béo ị!”

      “Em ông ấy xấu xí à?” Augustus chợt hỏi.

      “Cứ đóng tiếp ,” tôi với .

      “Tôi xấu xí. mới là đồ xấu xí, thở bình dưỡng khí à.”

      “Ông là kẻ hèn nhát!” Tôi quát ầm ĩ, và Augustus cười phá lên, quên mất nhân vật mình đóng. Tôi ngồi xuống. Chúng tôi kể Mẹ nghe về Nhà lưu niệm Anne Frank, cắt ra đoạn hôn nhau.

      “Thế các con có trở lại nhà Van Houten sau đó ?” Mẹ hỏi.

      Augustus thậm chí còn cho tôi thời gian kịp đỏ mặt, đáp luôn: “ ạ, chúng cháu ghé vào quán cà phê. Ở đó, Hazel ‘giảng’ cho cháu nghe về biểu đồ Venn rất mắc cười.” đá mắt sang tôi. Chúa ơi, quyến rũ.

      “Nghe hay nhỉ,” bà . “À, giờ Mẹ dạo để hai đứa tự nhiên chuyện,” bà với Gus, giọng hơi sắc cạnh. “Sau đó chúng ta có thể làm tour tham quan bằng thuyền kênh.”

      “Dạ, cũng được,” tôi đáp. Mẹ để lại tờ năm euro dưới chiếc đĩa lót ly rồi hôn lên tóc tôi, thầm, “Mẹ con, ơi là ,” bà dư hai chữ so với thường ngày.

      Gus chỉ bóng các nhánh cây giao nhau và tẽ ra lớp bê-tông. “Đẹp quá ha em?”

      “Dạ,” tôi đáp.

      phép dụ hay,” lẩm bẩm.

      ?” Tôi tò mò hỏi lại.

      “Hình ảnh tiêu cực của những thứ quấn quít nhau và sau đó chia lìa nhau,” giải thích. Trước mặt chúng tôi, hàng trăm người lướt qua, kẻ chạy bộ, người đạp xe hoặc có tốp còn trượt patin. Amsterdam là thành phố dành cho các hoạt động và vận động, thành phố nên di chuyển bằng xe ô-tô, và có cảm giác ràng là tôi thuộc về nơi này. Nhưng Chúa ơi, nó đẹp nên thơ, nhánh sông uốn lượn quanh cây cổ thụ, con cò đứng im lìm bên mép nước, dõi mắt tìm bữa sáng giữa hàng triệu cánh hoa du trôi bồng bềnh dòng nước.

      Nhưng Augustus chẳng để ý đến cảnh đẹp. quá bận tâm quan sát dịch chuyển của bóng cây. Cuối cùng cũng cất tiếng, “ có thể nhìn như thế này cả ngày, nhưng chúng ta nên về khách sạn.”

      “Chúng ta có thời gian ?” Tôi băn khoăn.

      cười buồn, đáp, “Phải chi là có.”

      muốn gì?” Tôi thắc mắc.

      chỉ hất đầu về hướng khách sạn.


      Chúng tôi trong im lặng, Augustus trước, cách tôi nửa bước. Tôi sợ hãi đến độ thể hỏi xem liệu mình có lý do gì để sợ hãi hay .

      Là vầy, có hệ thống được gọi là Tháp nhu cầu của Maslow. Về cơ bản, cái ông Abraham Maslow này trở nên nổi tiếng là nhờ vào lý thuyết về nhu cầu của mình, rằng số nhu cầu nhất định phải được đáp ứng trước khi ta có thể phát sinh các loại nhu cầu khác. Tháp nhu cầu đó trông như thế này:

      [​IMG]

      khi nhu cầu về thực phẩm và nước uống được thỏa mãn, ta tiến lên tầng tiếp theo của tháp nhu cầu, mong muốn được an toàn cơ thể, và sau đó lên các tầng tiếp theo và tiếp theo nữa. Nhưng điều quan trọng là, theo ông Maslow, trừ phi nhu cầu sinh lý của ta được thỏa mãn, chứ ta cũng chẳng buồn quan tâm đến nhu cầu an toàn hay quan hệ xã hội chi tiết, chứ đừng đến nhu cầu được “tự thể ,” cấp độ mà ta bắt đầu hướng đến sáng tạo nghệ thuật, tư duy về đạo đức và vật lý lượng tử cùng những vấn đề cao siêu cỡ đó.

      Nếu theo Maslow, tôi bị kẹt tầng thứ hai của tháp nhu cầu, khi sức khỏe chưa được đảm bảo an toàn và do đó thể với đến tình , tôn trọng, cảm hứng nghệ thuật hay bất cứ điều gì khác cao xa hơn. Mà điều đó ràng vớ vẩn: nhu cầu thôi thúc sáng tạo nghệ thuật hay suy ngẫm triết lý nhân sinh hề nguôi ngoai khi bạn đau ốm. Niềm thôi thúc ấy càng cháy bỏng hơn trước bệnh tật.

      Tháp nhu cầu của Maslow dường như ngụ ý rằng thân phận tôi kém cỏi hơn so với những người khác, và hầu hết mọi người dường nhu đồng ý với quan điểm này của ông. Nhưng Augustus . Tôi luôn luôn nghĩ rằng có thể tôi bởi vì cũng từng bị bệnh. Và giờ đây tôi thấy có lẽ vẫn thế.


      Chúng tôi đến phòng của tôi, Kierkegaard. Tôi ngồi xuống bên mép giường và mong đến ngồi bên cạnh, nhưng yên vị chiếc ghế hoa hòe hoa sói đầy bụi. Cái ghế ấy. Bao nhiêu tuổi rồi nhỉ? Năm mươi tuổi chăng?

      Tôi thấy bồn chồn trong dạ khi chậm rãi kéo điếu thuốc ra đặt lên môi. ngả người ra sau và thở dài. “Ngay trước khi em vào Phòng chăm sóc đặc biệt ICU, bắt đầu thấy đau ở hông.”

      đâu,” tôi cắt ngang. căng thẳng dâng lên và nhấn chìm tôi trong đó.

      gật đầu như xác nhận. “Thế nên chụp cắt lớp.” dừng lại, giật phắt điếu thuốc ra và nghiến chặt răng.

      Phần lớn cuộc đời của tôi được dành cho nỗ lực khóc trước mặt những người quý tôi, vì vậy tôi biết những gì Augustus cố làm. Bạn nghiến chặt răng, nhìn lên trần. Bạn tự nhủ rằng nếu họ thấy bạn khóc, nước mắt làm tổn thương họ. Và bạn chẳng là gì ngoài Nỗi Buồn Thương trong cuộc sống của họ. Mà bạn được trở thành nỗi buồn thương vô hạn như vậy, nên bạn khóc. Bạn tự nhủ những điều này với chính mình trong khi mắt vẫn nhìn lên trần nhà, rồi sau đó nuốt nước mắt vào trong mặc dù cổ họng bạn khô khốc. Để rồi cuối cùng bạn nhìn vào mắt người quý bạn và mỉm cười rạng rỡ.

      nở nụ cười nửa miệng quen thuộc và , “ cháy sáng như cây thông Noel, Hazel Grace. Từ lồng ngực đến hông trái rồi xuống gan, khắp toàn thân.”

      Khắp toàn thân. Từ đó treo lơ lửng trong gian đặc quánh. Cả hai chúng tôi đều biết ý nghĩa của nó. Tôi đứng dậy, kéo lê người cùng giá ô-xy tấm thảm mà có lẽ tuổi đời còn dài hơn quãng thời gian Augustus có thể sống được, đến bên . Tôi quỳ dưới chân ghế, ngả đầu vào lòng và vòng tay ôm .

      vuốt tóc tôi. “Em rất tiếc,” tôi .

      xin lỗi chuyện này với em,” , giọng rất bình tĩnh. “Mẹ em chắc biết. Cách bà nhìn . Chắc mẹ với bà hay sao đó. Lẽ ra nên sớm với em. ngu ngốc và ích kỷ.”

      Tôi biết tại sao chẳng gì, dĩ nhiên, cũng cùng lý do như tôi khi tôi muốn nhìn thấy mình trong Phòng chăm sóc đặc biệt. Tôi thể giận dù chỉ giây. Và đến bây giờ, khi ‘trái bom nổ chậm’, tôi hiểu ra mình ngốc khi cố gắng cứu mọi người khỏi mối nguy lãnh những mảnh đạn tan tác của chính mình: Tôi thể thôi Augustus Waters được. Và tôi cũng chẳng muốn thế.

      công bằng,” tôi . “ chẳng công bằng tí nào.”

      “Thế giới này,” , “ phải là công xưởng sản xuất điều ước.” Và sau đó lớp vỏ cứng cỏi của bị phá vỡ, chỉ trong chốc, tiếng nức nở của vỡ ra đầy bất lực như tiếng sấm rền trong trung mà có tia sét nào lóe lên, thanh tàn bạo khủng khiếp mà với những người chuyên trong lĩnh vực đau khổ này có thể nhầm lẫn là vì yếu đuối. Sau đó kéo tôi lên, mặt rất gần với mặt tôi, giọng rất cương quyết, “ chiến đấu với căn bệnh. chiến đấu vì em. Đừng lo cho , Grace Hazel. vẫn ổn. tìm ra cách để kéo dài sống và quấy nhiễu em thêm thời gian lâu lâu.”

      Nước mắt tôi trào ra. mạnh mẽ trở lại, ôm chặt tôi đến nỗi tôi có thể thấy cánh tay cuồn cuộn cơ của vòng quanh mình khi , “ xin lỗi. Em ổn thôi. Mọi chuyện ổn thôi. hứa!” và lại nhếch miệng cười.

      hôn lên trán tôi. Và tôi chợt thấy lồng ngực vạm vỡ của căng tràn như trước. “ nghĩ cuối cùng mình cũng sở hữu cố tật.”


      lúc sau, tôi kéo vào giường, nằm cạnh trong khi kể tôi nghe là họ bắt đầu chạy hóa trị giảm đau, nhưng bỏ ngang để lên đường Amsterdam, mặc cho ba mẹ nổi trận lôi đình. Họ cố gắng ngăn đừng cho tới tận sáng hôm đó, khi tôi nghe hét rằng cơ thể của thuộc về bản thân . “ ra chúng ta có thể dời ngày bay mà !” Tôi .

      , được đâu em,” phản đối. “Dù sao chữa trị cũng vô ích thôi, biết là nó hữu hiệu mà, em hiểu .”

      Tôi gật đầu đồng tình, “Chỉ vớ vẩn cả thôi, toàn bộ liệu trình.”

      “Họ thử nghiệm gì đó khác khi về đến nhà. Họ luôn nảy ra ý tưởng mới.”

      “Ừ,” tôi đồng cảm vì bản thân từng là vật thử nghiệm của đủ loại liệu trình chữa trị.

      “Phần nào lừa dối em để em tin là mình người khỏe mạnh,” .

      Tôi nhún vai. “Em cũng làm như vậy với mà!”

      , em chẳng phải như vậy, chẳng ai tuyệt vời như em hết.” âu yếm hôn tôi và chợt nhăn mặt.

      “Đau lắm hả ?” Tôi hỏi.

      . Chỉ hơi đau thôi.” nhìn chằm chằm lên trần nhà lúc lâu rồi . “ thích thế giới này. thích uống sâm-banh. thích hút thuốc. thích nghe giọng người Hà Lan tiếng Hà Lan. Và bây giờ… thậm chí còn có được trận chiến. thể chiến đấu.”

      phải chiến đấu chống ung thư,” tôi . “Đó là cuộc chiến của . Và tiếp tục chiến đấu quật cường,” tôi động viên . Tôi ghét khi ai khác cố gắng động viên tinh thần tôi để sẵn sàng cho cuộc chiến, nhưng giờ đây tôi lại làm điều đó với . “ … sống tốt cho ngày hôm nay. Giờ, đây là cuộc chiến của riêng .” Tôi thấy coi thường mình vì kiểu tình cảm ủy mị ướt át này, nhưng tôi còn có gì khác để trao ?

      cuộc chiến ư?” hỏi ngược lại vẻ khinh miệt. “ chiến đấu với cái gì? Căn bệnh ung thư của . Và bệnh ung thư của là gì? Là chính bản thân . Các khối u tạo ra . Chúng tạo ra cũng giống như não , tim hình thành nên vậy. Đây là cuộc nội chiến, Hazel Grace à, và phe chiến thắng được xác định trước.”

      Gus,” tôi thốt lên. Tôi thể bất cứ điều gì khác. thừa thông minh để hiểu những lời an ủi vớt vát mà tôi có thể nghĩ ra.

      “Được rồi em,” . Nhưng tôi vẫn chưa hết. Sau lúc, , “Nếu em đến Bảo tàng Rijksmuseum, điểm mà thực muốn tham quan - nhưng chúng ta đùa chắc, cả hai đứa đều thể bộ quanh viện bảo tàng nổi. Nhưng dù sao cũng xem bộ sưu tập trưng bày của nó mạng trước khi chúng ta bay đến đây. Nếu em có thể , và hy vọng ngày nào đó em được, em nhìn thấy rất nhiều bức tranh vẽ người chết. Em thấy Chúa Giêsu thập giá, em thấy chàng bị đâm vào cổ, em thấy người ta chết đuối biển, hy vọng trong chiến tranh và cuộc diễu hành của những người tử vì đạo. Nhưng . Có. . Bệnh. Nhi. Ung. Thư. Nào cả. Cũng chẳng có ai chết vì mắc bệnh dịch hạch, bệnh đậu mùa hay sốt vàng da hoặc bất cứ chứng bệnh gì, vì bệnh tật chẳng có gì vinh quang cả. Chết vì bệnh có ý nghĩa mà cũng chẳng có vinh dự gì hết.”

      Abraham Maslow, con xin trình Ngài chàng thanh niên Augustus Waters, người mà có óc tò mò về sinh tồn làm lu mờ những em đồng đạo được “ăn sung mặc sướng,” hết mực chiều và khỏe mạnh cường tráng. Trong khi đa phần con trai tiếp tục cuộc sống hưởng thụ mù quáng mà mảy may suy tư Augustus Waters bỏ thời gian nghiên cứu bộ sưu tập của bảo tàng Rijksmuseum từ xa.

      “Sao vậy?” Augustus hỏi sau hồi quan sát.

      có gì,” tôi đáp. “Chỉ là em…” tôi bỏ lửng và biết làm thế nào để kết thúc câu. “Chỉ là em rất, rất thích .”

      cười nửa miệng, mũi rất gần với mặt tôi. “Cảm xúc tương đồng. nghĩ là em có thể quên chuyện đó và cư xử như phải là người sắp chết.”

      “Em nghĩ là sắp chết,” tôi . “Em nghĩ chỉ bị ung thư sơ sơ thôi.”

      mỉm cười. Đùa cợt trước giá treo cổ. “ ngồi chiếc tàu lượn siêu tốc mà chỉ thẳng hướng lên,” .

      “Và trách nhiệm cũng như đặc quyền của em là cùng lái nó lên.” Tôi hùa thêm.

      “Có lố lăng khi muốn thử hôn em vậy?”

      có thử gì hết,” tôi thầm, “Chỉ có làm thôi.”

    5. horcrux

      horcrux New Member

      Bài viết:
      27
      Được thích:
      2
      Chương 14


      chuyến bay về, khi chúng tôi ở độ cao khoảng ba ngàn sáu trăm thước những đám mây mây cách mặt đất ba ngàn thước, Gus bảo, “ từng nghĩ sống mây rất vui.”

      “Ừ đúng rồi,” tôi hào hứng. “Giống như sống trong nhà phao, nhưng phải lúc nào cũng thế.”

      “Nhưng rồi có hôm trong tiết khoa học hồi cấp hai, thầy Martinez hỏi xem ai trong lớp từng mơ được sống mây, và cả lớp đều giơ tay. Sau đó, thầy Martinez thủng thỉnh bảo với bọn rằng ở độ cao đây gió thổi hơn trăm năm mươi dặm giờ, nhiệt độ là ba mươi độ, hoàn toàn có ô-xy và khi ở mây tất cả chúng ta chết trong vòng vài giây.”

      “Ông thầy nghe có vẻ ‘lành tính’ dữ ha!”

      “Thầy ấy là dũng sĩ diệt giấc mơ đó Hazel Grace. Để kể em nghe. Em nghĩ núi lửa có tuyệt ? Thế có còn tuyệt nữa khi nó chôn vùi mười ngàn người tại thành cổ Pompeii. Em vẫn thầm tin rằng thế giới này là do phép thuật tạo ra? Đó chỉ là các phân tử có linh hồn va vào nhau cách ngẫu nhiên thôi. Em có lo lắng xem ai chăm sóc mình nếu ba mẹ em mất ? Em cũng nên nghĩ đến việc đó , vì trước sau gì họ cũng bị dòi ăn thôi.”

      “Đôi khi biết nhiều mà lại hay,” tôi .

      tiếp viên đẩy xe nước giải khát ngang qua, liên tục hỏi khẽ, “Quý khách dùng nước ạ? Quý khách dùng nước ạ? Quý khách dùng nước ạ? Quý khách dùng nước ạ?” Gus chồm qua người tôi, giơ tay hỏi, “Vui lòng cho chúng tôi ít sâm-banh.”

      “Cậu đủ hai mươi mốt tuổi chưa?” chị hỏi đầy nghi ngờ. Tôi đưa tay chỉnh lại đầu phun ô-xy trong mũi cách lộ liễu. Chị tiếp viên mỉm cười, sau đó liếc nhìn Mẹ tôi ngủ say. “Bà thấy phiền chứ?” chị hỏi.

      đâu,” tôi trấn an chị.

      Nghe thế chị bèn rót rượu sâm-banh vào hai chiếc ly nhựa. Đặc Quyền của Bệnh Nhân Ung Thư mà!

      Gus và tôi cụng ly, “Chúc mừng em!” .

      “Chúc mừng !” Tôi , chạm ly vào ly .

      Chúng tôi nhấm nháp. Cảm giác chếnh choáng nhiều sao bằng sâm-banh ở Nhà hàng Oranjee, nhưng vẫn uống được.

      “Em biết ,” Gus với tôi, “tất cả mọi điều ông Van Houten đều là .”

      “Cũng có thể, nhưng ông ấy cần hằn học về mọi chuyện như vậy. Em tin là ông ta tưởng tượng ra tương laicho chú Chuột Hamster Sisyphus mà hề nghĩ đến mẹ của Anna.”

      Augustus nhún vai. Đột nhiên có vẻ hơi xao lãng. “ ổn chứ?” Tôi hỏi.

      lắc đầu khẽ. “Đau,” đáp gọn lỏn.

      “Ngực à?”

      gật đầu, nắm chặt bàn tay. Sau này, mô tả cơn đau như thể có ông béo chân mang giày cao gót đứng ngay chính giữa ngực . Tôi gập khay để thức ăn trở lại lưng ghế trước, khóa lại rồi cúi xuống lục tìm thuốc trong ba lô của . nốc viên với rượu sâm-banh. “Ổn chưa ?” Tôi hỏi lại lần nữa.

      Gus ngồi yên, đấm đấm vào tay vịn, rang chờ cho thuốc phát huy tác dụng, loại thuốc giảm đau mà cũng chẳng giúp thoát khỏi cơn đau tái phát (và thoát khỏi cả tôi nữa).

      “Toàn bộ câu chuyện hơi mang tính cá nhân,” Gus yếu ớt . “Giống như ông ấy giận chúng ta vì lý do riêng tư nào đó. Cái ông Van Houten ấy!” uống ừng ực hớp rượu còn lại trong ly và nhanh chóng ngủ thiếp .

      Ba tôi chờ sẵn trong khu trả hành lý, giữa rừng tài xế limo sang trọng trong bộ suit đường hoàng giơ đủ loại bảng tên đón khách: JOHNSON, BARRINGTON, CARMICHAEL. Ba cũng có bảng hiệu của riêng ông thiết kế. GIA ĐÌNH THÂN THƯƠNG CỦA TÔI, bên dưới còn ghi thêm (VÀ GUS).

      Tôi ôm chầm lấy Ba, và ông sụt sịt khóc (dĩ nhiên). đường về nhà, Gus và tôi thi nhau kể chuyện Amsterdam cho ông nghe. Nhưng mãi đến khi tôi về đến nhà, nối dây vào máy Philip, thong thả vừa xem kênh truyền hình Mỹ mạng với Ba vừa ăn pizza Mỹ (chúng tôi để thẳng miếng pizza khăn ăn xếp trong lòng), tôi mới có dịp với ông về chuyện Gus.

      “Bệnh tình của Gus tái phát,” tôi kể ông nghe.

      “Ba biết,” ông đáp. Ông nhích qua chỗ tôi và thêm: “Trước chuyến mẹ thằng bé có cho Ba Mẹ biết. Ba xin lỗi vì thằng bé cho con biết. Ba… Ba xin lỗi con, con à.” Tôi gì trong lúc lâu. Chúng tôi xem chương trình lựa chọn ngôi nhà ưng ý mà những người tham gia mua. “À, Ba có đọc cuốn Nỗi đau tột cùng trong lúc hai mẹ con vắng nhà,” Ba .

      Tôi quay đầu nhìn Ba. “Ồ, tuyệt quá. Vậy Ba thấy sao?”

      “Truyện hay. Hơi khó hiểu với Ba. Con hãy nhớ rằng Ba là dân hóa sinh, chứ phải dân chuyên văn. Ba ước gì truyện có đoạn kết”

      “Dạ,” tôi . “Ai cũng phàn nàn như thế.”

      “Truyện cũng hơi tuyệt vọng,” ông thêm. “Hơi mang tư tưởng chủ bại.”

      “Nếu Ba chủ bại có nghĩa là trung thực con đồng ý.”

      “Ba nghĩ tư tưởng chủ bại là trung thực,” ông trả lời. “Ba từ chối chấp nhận định nghĩa đó.”

      “Vậy mọi việc xảy ra đều có nguyên do cả và chúng ta đều sống mây, trong những dinh thự nguy nga và suốt ngày chỉ biết chơi đàn hạc thôi à?”

      Ba mỉm cười. Ông vòng cánh tay hộ pháp ôm tôi và hôn lên đầu tôi. “Ba biết mình tin tưởng điều gì, Hazel à. Ba từng nghĩ khi trưởng thành, người ta biết mình tin tưởng những gì, nhưng đến nay Ba vẫn chưa biết con ạ.”

      “Dạ,” tôi đáp. “Thôi được rồi.”

      Ba lấy làm tiếc với tôi lần nữa về chuyện Gus, và sau đó chúng tôi quay lại xem chương trình, những người tham gia chọn được ngôi nhà ưng ý. Tay Ba vẫn vòng ôm tôi, còn tôi cũng bắt đầu lơ mơ ngủ, nhưng tôi chưa muốn ngủ lúc này. Chợt Ba bật thốt: “Con biết Ba tin gì ? Ba nhớ hồi đại học, Ba đăng ký học toán, lớp toán thực tuyệt vời do giáo con đứng lớp. Khi ấy giảng về thuật toán biến đổi Fourier nhanh chợt dừng giữa chừng và , ‘Đôi khi có vẻ như vũ trụ muốn được chú ý.’

      “Đó là những gì Ba tin. Ba tin rằng vũ trụ này muốn được chú ý. Ba nghĩ rằng vũ trụ hơi thiên về ý thức, và nó chỉ tán dương trí thông minh phần nào bởi còn mải thích thú việc người khác quan sát vẻ thanh lịch của nó. Và Ba là ai kia, chỉ là người sống trong giai đoạn lịch sử, quá ngắn ngủi để có thể với vũ trụ rằng quan sát đó - chính xác hơn là quan sát của Ba - chỉ mang tính tạm thời.”

      hồi sau tôi nhận xét, “Ba quả là người thông minh!”

      “Con quả là người giỏi nhận xét,” ông trả lời.


      Buổi chiều hôm sau, tôi lái xe qua nhà Gus và ăn bánh mì sandwich, bơ đậu phộng và mứt với ba mẹ và kể cho họ nghe chuyện ở Amsterdam trong khi ngủ xô-pha phòng khách, nơi chúng tôi từng xem phim V for Vendetta. Từ nhà bếp tôi chỉ thấy thấp thoáng dáng : nằm ngửa, đầu quay ngược hướng tôi, và được đặt ống thông nội tĩnh mạch PICC. Họ tấn công ung thư bằng công thức pha chế thuốc mới. Hai loại thuốc hóa trị và loại hấp thụ protein mà họ hy vọng vô hiệu hóa gen đột biến gây bệnh ung thư trong cơ thể . Gus may mắn mới có tên trong danh sách thử nghiệm, ba mẹ chia sẻ với tôi. May mắn ư? Tôi biết trong các thuốc đó. Chỉ nghe tên thôi cũng đủ làm tôi muốn nôn mửa.

      lúc sau, mẹ Isaac đưa sang chơi.

      “Chào Isaac, em là Hazel từ Hội Tương Trợ đây, phải bạn cũ trời ơi của đâu.” Mẹ dắt về phía tôi. Tôi nhấc người khỏi ghế và ôm chầm lấy , trong khi mất chốc mới tìm thấy tôi. ghì chặt tôi.

      “Amsterdam thế nào?” hỏi.

      “Tuyệt cú mèo!” Tôi trả lời.

      “Waters,” gọi. “Mày đâu rồi, người em?”

      ấy ngủ,” tôi trả lời, và giọng tôi giấu được. Isaac lắc đầu cách buồn bã trong khi tất cả mọi người đều im lặng.

      “Chết tiệt!” Isaac thốt lên sau giây. Mẹ dắt đến ngồi xuống chiếc ghế vừa kéo ra.

      “Tao vẫn có thể hạ đẹp mày trong trò Chống phiến loạn đó nhé,” Augustus quay đầu nhìn chúng tôi. Giọng có phần chậm hơn dưới tác dụng của thuốc, nhưng nhờ vậy mới với tốc độ của người bình thường.

      “Tao cá tất cả bọn đần đều bị mù,” Isaac vừa trả lời vừa quơ tay trong khí hòng tìm mẹ . nắm lấy tay , kéo đứng dậy và dẫn về phía chiếc xô-pha. Hai chàng vụng về ôm nhau. “Mày thấy trong người thế nào?” Isaac hỏi thăm.

      “Miệng tao lúc nào cũng đắng nghét. Nhưng ngoài chuyện bực mình đó ra bạn mày ngồi chiếc tàu lượn siêu tốc mà chỉ thẳng hướng lên, hiểu chưa cu,” Gus đáp khiến Isaac cười ngất. “Thế mắt mày sao rồi?”

      “Ồ, tuyệt vời,” . “Ý tao là giờ tao để tâm đến chuyện mắt mũi nữa.”

      “Nghe hay đó, ừ, phải thế chứ,” Gus bảo. “ phải có ý chơi trội mày hay gì đâu nhưng người tao giờ toàn là tế bào ung thư.”

      “Tao có nghe ,” Isaac đáp, cố để cho câu chuyện ảnh hưởng đến . mò mẫm tìm tay Gus nhưng kết quả lại sờ trúng đùi ấy.

      “Tao vào thuốc,” Gus cho biết.


      Mẹ Isaac mang ra hai chiếc ghế trong phòng ăn cho Isaac và tôi ngồi cạnh Gus. Tôi nắm lấy tay Gus, mân mê chỗ hõm giữa ngón cái và ngón trỏ của .

      Người lớn kéo nhau xuống tầng hầm, chắc cùng chia sớt nỗi buồn hay gì đó với nhau, để lại ba đứa chúng tôi trơ trọi trong phòng khách. Sau lúc, Augustus quay đầu về phía chúng tôi, vẫn chưa tỉnh ngủ hẳn. “Monica sao rồi mày?” hỏi.

      “Lặn mất tăm!” Isaac đáp. “ email, thiệp thiếc gì hết. Tao có cái máy này đọc hộ email cho tao, cũng hay phết. Tao có thể đổi giọng nam hay nữ, hoặc chọn giọng theo vùng miền, hoặc mấy trò linh tinh khác.”

      “Vậy tao có thể gửi cho mày câu chuyện khiêu dâm và mày chỉnh giọng ông già người Đức đọc cho mày nghe phải ?”

      “Chính xác,” Isaac . “Nhưng mẹ tao vẫn còn giúp tao chỉnh máy, nên gượm . Hãy để câu chuyện khiêu dâm qua chất giọng Đức này chờ thêm hoặc hai tuần nữa .”

      “Chị ấy thậm chí chẳng nhắn tin hỏi thăm tình hình sức khỏe của à?” Tôi hỏi. Tôi thấy chuyện này như hành động bất công thể chấp nhận được.

      “Hoàn toàn ngoài vùng phủ sóng,” Isaac .

      “Buồn cười vậy!” Tôi khỏi lấy làm bất bình.

      thôi suy nghĩ về chuyện đó nữa. Thú có thời gian để gặp gỡ bạn . Giờ công việc chiếm toàn thời gian là Học Cách Làm Người Mù.”

      Gus lại quay đầu , chăm chú nhìn ra ngoài cửa sổ về phía sân sau. nhắm mắt lại.

      Isaac hỏi tôi khỏe và tôi đáp rằng tôi vẫn khỏe. kể cho tôi nghe về mới tham gia Hội Tương Trợ có giọng rất quyến rũ. Và cần tôi theo để với xem liệu ấy có quyến rũ . Thế rồi đột nhiên Augustus bảo, “Người ta thể liên hệ với bạn trai cũ của mình sau khi ta bị múc cặp mắt ra như vậy.”

      “Chỉ là trong những-” An Isaac mở miệng định .

      “Hazel Grace, em có bốn dollar ở đó ?” Gus hỏi ngang.

      “Dạ có,” tôi ngơ ngác đạp. “Chi vậy ?”

      “Hay lắm. Em tìm giùm cái chân giả của ở dưới bàn cà phê,” chỉ. Gus chống người ngồi thẳng dậy và nhích xuống cuối ghế xô-pha. Tôi đưa cho cái chân giả và chậm chạp gắn nó vào.

      Tôi giúp đứng lên và chìa tay cho Isaac vịn, rồi dẫn tránh đồ nội thất trong phòng khi đột nhiên chúng có vẻ cứ ngáng ngang đường chúng tôi. Và tôi chợt nhận ra rằng, lần đầu tiên trong nhiều năm qua, tôi là người khỏe nhất trong phòng.

      Tôi lái xe. Augustus ngồi ghế trước. Isaac ngồi ở băng ghế sau. Chúng tôi dừng trước cửa hàng tạp hóa. Theo hướng dẫn của Augustus, tôi xuống mua tá trứng trong khi hai ngồi chờ trong xe. Sau đó Isaac, theo trí nhớ của mình, chỉ đường chúng tôi đến nhà chị Monica, ngôi nhà hai tầng rất ảm đạm gần Trung tâm Cộng đồng Do Thái JCC. Chiếc Pontiac Firebird thập niên 1990 màu xanh lá mạ của chị Monica nằm chễm chệ trước lối vào nhà, lốp xe căng phồng.

      “Tới chưa em?” Isaac hỏi khi thấy tôi sắp dừng xe.

      “Ồ, tới rồi,” Augustus đáp. “Mày biết sao , Isaac? Nó giống như tất cả những hy vọng hão huyền mà chúng ta ngu ngốc đặt niềm tin vào vậy.”

      “Vậy là em ấy có ở nhà hả?”

      Gus chậm rãi ngoái đầu ra sau nhìn Isaac. “Ai thèm quan tâm xem nàng đó có nhà hay . Chuyện này phải vì ta, mà vì mày đấy.” Gus ôm chặt hộp trứng vào lòng, mở cửa và xoay xở bước ra khỏi xe. Sau đó mở cửa cho Isaac, và tôi nhìn qua gương chiếu hậu thấy Gus giúp Isaac ra khỏi xe. Hai người đứng tự vào vai nhau, rồi xoay người lại, trông như hai bàn tay chắp lại cầu nguyện nhưng hai lòng bàn tay áp vào nhau.

      Tôi quay cửa sổ xe xuống và quan sát từ trong xe, bởi tôi rất sợ mấy hành vi cố tình phá hoại. Họ tiến mấy bước về phía chiếc xe của chị Monica, sau đó Gus mở hộp giấy lấy quả trứng đưa cho Isaac. Isaac vung tay ném nó. Hụt rồi, trứng rơi cách xe những mười hai thước.

      “Chệch về bên trái chút,” Gus hướng hẫn.

      “Là cú ném vừa rồi hơi thiên về bên trái hay tao cần nhắm nghiêng bên trái chút?”

      “Nhắm nghiêng về bên trái.” Isaac xoay vai. “Xích qua bên trái thêm chút nữa,” Gus nhắc. Isaac nghiêng vai lần nữa. “Ừ. Đúng rồi. Giờ ném mạnh vào.” Gus lại đưa thêm quả trứng, và Isaac ném nó . Quả trứng bay thành hình vòng cung qua khỏi chiếc xe và đáp xuống mái nhà. “Trúng phóc!” Gus hào hứng.

      ? Isaac khoái chí hỏi.

      , mày ném cao hơn nóc xe sáu thước. Cố gắng ném mạnh nữa nhưng thấp thôi. Và hơi chệch về bên phải chút xíu so với cú vừa rồi.” Isaac thò tay qua và tự lấy trứng từ hộp giấy Gus ôm. vung tay ném nó, trứng rơi trúng đèn chiếu hậu. “Đúng rồi!” Gus kêu lên. “Đúng rồi! ĐÈN CHIẾU HẬU!”

      Isaac lấy quả trứng khác, chệch mé phải quá, sau đó thêm quả, thấp quá, lại tiếp thêm quả nữa, trúng kính chắn gió phía sau. Sau đó ném trúng ba quả liên tiếp vào cốp sau. “Hazel Grace,” Gus giục tôi. “Chụp lại cảnh này mau để Isaac có thể nhìn thấy chiến tích hôm nay khi người ta phát minh ra mắt rô-bốt.” Tôi nhô người ra khỏi xe, ngồi tựa lên cửa xe kéo kính xuống, khuỷu tay chống lên nóc xe và chụp hình bằng chiếc điện thoại của tôi: Augustus dù ngậm điếu thuốc trong miệng nhưng điệu cười nhéch mép của bảnh hết sức, tay giơ hộp trứng hồng lên quá đầu trong đó chỉ còn vài quả trứng chỏng chơ. Tay kia choàng qua vai Isaac, người buồn quay nhìn về phía máy ảnh. Đằng sau họ, lòng đỏ trứng gà nhểu xuống kính chắn gió và thanh hãm xung của chiếc Firebird xanh mạ. Và đằng sau nữa, cánh cửa mở xịch ra.

      “Cái gì đây,” người phụ nữ trung niên cất tiếng sau khi tôi chụp được vài tấm hình, “Lạy Chúa tôi –” và sau đó bà im bặt.

      “Thưa bà,” Augustus , gật đầu với bà ấy, “xe con bà vừa bị ném trứng cách chính đáng bởi chàng mù. Bà vui lòng đóng cửa và quay lui vào trong, chúng tôi buộc phải gọi cảnh sát.” Do dự lát, mẹ Monica đóng cửa lại và biến mất. Isaac ném liền tù tì ba quả trứng cuối cùng trong nháy mắt. Sau đó Gus dắt quay trở lại xe. “Thấy chưa, Isaac, chỉ cần mày phủ định – cẩn thận, chúng ta sắp tới lề đường rồi – tính hợp lẽ trong cách hành xử của họ, nếu mày đổi ngược vị thế để họ cảm thấy như họ phạm tội khi đứng nhìn – chỉ vài bước nữa thôi – xe ô-tô của mình bị ném trứng, họ bối rối, sợ hãi, lo lắng và họ quay lại – tay nắm cửa ngay trước mày đó – cuộc sống tuyệt vọng đến lặng lẽ của họ.” Gus vội vàng vòng lên và ngồi vào ghế trước. Khi cửa vừa đóng, tôi khởi động máy xe phóng nhưng chỉ được mấy chục thước tôi nhận ra mình vào hẻm cụt. Tôi đánh vòng cua và trở lại đường cũ, ngang qua nhà của chị Monica lần nữa.

      Tôi bao giờ có dịp chụp ảnh nữa.

    6. ^^! Nếu bạn không gửi link bài viết trên Facebook được, hãy sử dụng link trong khung này để chia sẻ bài viết :